Thứ 5, 05/12/2019, 22:55 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

"Gieo chữ" giữa rừng sâu

14/09/2016 - 16:49

Biên phòng - Giữa "tâm lõi" của rừng quốc gia Cát Tiên (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng) có hai ngôi trường đặc biệt ở thôn 3 và thôn 4, thuộc trường Tiểu học Phước Cát 2. Gọi là ngôi trường đặc biệt, bởi điểm trường này nằm ở giữa rừng sâu, núi thẳm và 100% học sinh ở đây đều là người dân tộc thiểu số S,Tiêng và Châu Mạ. Ở giữa đại ngàn ấy, có các thầy cô giáo ngày đêm cần mẫn gieo chữ cho các em học sinh với một khát vọng truyền con chữ giúp thoát đói nghèo cho đồng bào thôn bản nơi đây.

vr75_10a
Để đến được điểm trường thôn 4, các thầy giáo phải luồn rừng rất cực nhọc. Ảnh: Nguyễn Dũng

Một thời dựng lán giữa rừng

Vượt qua chặng đường 250km từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi có mặt tại trường Tiểu học Phước Cát 2, xã Phước Cát, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng vào một ngày cuối tuần để tặng quà cho các em học sinh ở đây. Khác với những cổng trường nơi thị thành tấp nập hoặc miền xuôi, cổng trường ở đây dựng bằng tre rừng. Dưới tán điều già cỗi, các em học sinh chơi trên nền đất, tóc em nào cũng đỏ quạch. Nhiều em đi chân đất đến trường. Thầy giáo Nguyễn Văn Nam, Phó Hiệu trưởng nói: "Trường Tiểu học Phước Cát 2 có 5 điểm trường. Đây là điểm trường chính. Các em học sinh ở đây còn khá hơn đấy. Cách đây 25km là điểm trường thôn 3, thêm 5km nữa là điểm trường thôn 4. Hai điểm trường này khó khăn, nghèo khó nhất vì nằm ở tâm lõi của rừng quốc gia Cát Tiên. 100% học sinh đều là người dân tộc thiểu số S,Tiêng, Châu Mạ".

Sau khi xếp lại hành lý, theo xe máy của thầy Nam, xe chúng tôi "bò" đến điểm trường thôn 3 (phân hiệu 3) trên con đường bê tông rộng chưa đầy 3m. Đây là điểm trường nghèo khó nhất trong hệ thống cơ sở hạ tầng giáo dục ở tỉnh Lâm Đồng, tính đến thời điểm này. Để đến được đây, chúng tôi phải vượt 25km ngoằn ngoèo khúc khuỷu. Thầy Nam cho biết, một năm trước, con đường trải bê tông bây giờ là đường mòn lau sậy, trời mưa trơn trượt, đất bám không nhấc nổi chân người. Mùa nắng đến được trường phải leo qua ba "cổng trời" cheo leo giữa sườn đồi. "Ngày ấy, khó khăn lắm chứ đâu được như bây giờ. Nhưng bù lại, các em được học cái chữ, biết nói tiếng phổ thông, nhận biết được muốn thoát nghèo thì phải đi học, vì thế, dù có khó khăn, gian khổ đến mấy, chúng tôi cũng chịu được" - thầy Nam tự hào.

Là người đầu tiên đến đại ngàn này "gieo chữ", thầy Nam không nhớ hết được bước chân thầy đã đi bao lần đến bản làng vận động học sinh đi học, bao lần đạp xe vượt rừng đến trường, nhưng có một việc thầy không thể nào quên, đó là những ngày đầu tiên dựng lán giữa rừng dạy chữ làm chúng tôi rơi nước mắt. Thầy kể, năm 1987, điểm trường thôn 3 và thôn 4 được thành lập.

Ngày ấy, thôn 3 bây giờ là rừng sâu, núi cao, rất nhiều thú dữ, chim muông và không có dấu chân người. Ở giữa rừng sâu này, lũ trẻ chưa bao giờ nhìn thấy con chữ, ngày cặm cụi mò cá dưới suối, lên rẫy bẫy chim, đêm chìm trong màn sương dày đặc của núi rừng. Để có chỗ cho học sinh học tập, thầy đã cùng với các thanh niên trong bản vào rừng chặt cây dựng lớp. "Cây rừng làm cột, lá cọ làm mái che, tre rừng làm bàn học. San phẳng vạt đồi để dựng lớp trên đó. Gọi là lớp học chứ thực tế nó như cái chòi lá giữa rừng sâu" - thầy Nam hồi tưởng lại.

Dựng xong lớp, nhưng học sinh ở đâu để dạy, khi những đứa trẻ ở đây chỉ quen theo mẹ lên rẫy trỉa bắp, vào rừng đào măng, xuống suối mò cá, chưa hề nghe đến chuyện học chữ bao giờ. Thầy Nam thầm nghĩ: "Con đường thoát nghèo phải bắt đầu từ con chữ" - cuộc vận động học sinh đến trường bắt đầu. Thế là thầy giáo trẻ chẳng quản khó khăn, gian khổ, ngày ngày lặn lội đến từng gia đình vận động các em học sinh đi học.

Những ngày đầu đi vận động, thầy không khỏi thất vọng vì bố mẹ các em chỉ muốn con mình lên rẫy trỉa bắp, trồng mì mà không muốn cho con đi học chữ. Có phụ huynh nói thẳng "tao không biết con chữ đâu, để nó ở nhà đi rừng kiếm gạo cho no cái bụng". Thầy Nam không hề nản chí, tìm mọi cách thuyết phục nhiều lần, cuối cùng họ cũng "thông" và đồng ý cho con đến trường. Ngày đầu tiên đứng trên bục giảng cũng là ngày thầy rơi nước mắt. Thầy khóc vì thương các em học sinh quá nghèo. Có em đến lớp mặc manh áo rách, có học sinh địu cả em nhỏ theo.

0fp3_10b
Em Điểu Thị Viên, học sinh lớp 4, điểm trường thôn 4 đang học môn Tiếng Việt. Ảnh: Nguyễn Dũng

Giáo viên khó khăn, đồng bào lạc hậu

Trường Tiểu học Phước Cát 2 có 5 điểm trường, trong đó, 2 điểm trường ở thôn 3 và thôn 4 thuộc diện khó khăn nhất. Từ điểm trường chính đến điểm trường thôn 3 cách 25km. Tuy đã được trải bê tông, song phải vượt qua ba "cổng trời" sườn dốc mới đến nơi được. Từ điểm trường thôn 3, muốn đến điểm trường thôn 4 phải luồn rừng, lội suối 5km nữa. Điểm trường thôn 3 có 4 phòng học, nhưng có đến 6 lớp học từ mầm non đến lớp 5. Do vậy, lớp 2 phải học ghép với lớp 3, còn lớp 4 ghép với lớp 5, nhưng chỉ có 3 giáo viên dạy học.

Cô giáo Hiệu trưởng Nguyễn Thị Thu Hằng cho biết, cái khó khăn nhất hiện nay của 2 điểm trường này là không có điện thắp sáng. Ngày nắng, các em học sinh phải ngồi học dưới cái nóng hầm hập, do nắng từ mái tôn hắt xuống. "Các thầy cô giáo ở thôn 3 tự đào giếng lấy nước ăn, còn ở thôn 4, mọi người ăn uống, tắm giặt đều dùng nước suối. Để đỡ vất vả, chúng tôi dùng ống nứa, luồng dẫn nước về. Mỗi điểm trường đều bố trí nhà ở tạm cho giáo viên độc thân, kết hợp dạy chữ buổi tối cho bà con trong thôn. Do chưa có điện nên đời sống tinh thần ở đây gặp không ít khó khăn. Tối đến, các thầy, cô dạy chữ cho bà con trong thôn chủ yếu bằng đèn dầu" - cô Hằng chia sẻ.

Điểm trường ở thôn 3 và thôn 4 "cắm" trong lòng dân thôn bản người dân tộc S,Tiêng và Châu Mạ, đó cũng là cái khó cho việc dạy học ở đây. Muốn các em biết chữ, việc đầu tiên là dạy tiếng phổ thông. Trước dây, có học sinh học đến 3 năm vẫn chỉ nói bập bẹ tiếng phổ thông, có em 16 tuổi mới học hết lớp 2, thậm chí, có thanh niên lấy chồng sinh con rồi mới đi học chữ. "Công việc chủ yếu của đồng bào thôn bản là lên rẫy, vào rừng đào măng, xuống suối mò cá. Đời sống kinh tế của bà con còn khó khăn lắm nên không có điều kiện để tiếp cận với chữ nghĩa, sách vở" - cô Hằng cho biết thêm.

Mặc dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng nhiều người dân ở đây sẵn sàng hiến đất để xây dựng trường học cho con em mình. Điển hình như ông Điểu K-Trang, gắn bó với mảnh đất đại ngàn này hơn 50 năm qua. Ông Điểu K-Nốt, trưởng thôn 3 cho biết, năm 2013, ông Điểu K-Trang đã tự nguyện hiến 3 sào đất để xây dựng trường học. Bản thân ông K-Trang và con ông cũng không biết chữ. Từ ngày có ngôi trường mới, hằng tối, những người già trên 60 tuổi vẫn đến lớp chong đèn học chữ. Nhiều thanh niên trong thôn thường tranh thủ giờ buổi trưa, buổi chiều đến học. Điểm trường thôn 3 và thôn 4 đã trở thành niềm tự hào của giáo viên, học sinh và bà con nơi đây. Bởi nó vừa là nơi dạy chữ cho học sinh và cho bà con, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Gần 30 năm trước, điểm trường thôn 3 bây giờ là rừng sâu, núi cao, thú dữ, chim muông, không có dấu chân người. Hiện nay, nơi đây đã hình thành một dãy trường dạy chữ với 4 phòng liền kề. Mặc dù cơ sở vật chất, bàn ghế không khang trang, hiện đại như miền xuôi, nhưng đây là nơi "truyền chữ" và thắp sáng tri thức cho nhiều thế hệ học sinh, là niềm tự hào của người dân thôn bản nơi xa xôi hẻo lánh này.

Mai Thắng