Thứ 4, 23/10/2019, 15:11 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Giang sơn thu về một mối

27/04/2015 - 11:41

Biên phòng - Biên giới năm xưa núi rừng trùng điệp, vắng bước chân người, với những chiến địa hoang tàn, hầm hào, bãi mìn do chiến tranh để lại… 40 năm sau, quân dân biên giới đã nỗ lực tạo nên một biên cương đang chuyển mình hội nhập cùng cả nước với những cánh rừng xanh mát, những cửa khẩu, cảng biển được trang bị hiện đại tấp nập tàu xe. Nhìn dáng đứng của người lính Biên phòng trên biên giới hôm nay, lại nhớ đến hành trình xuân của những người lính quân hàm xanh 40 năm trước làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam và tiếp quản, xây dựng các đồn, trạm BP trên những vùng mới giải phóng. 

Bài 1: Khúc quân hành của “đội quân rồng xanh"

Được CIA đặt biệt danh là "đội quân rồng xanh", những chiến sĩ mang quân hàm xanh ấy tuy không hùng hậu, không có vũ khí, khí tài tối tân nhưng đã lặng thầm chiến đấu trong lòng địch, giáng nhiều đòn chí mạng vào những cơ quan đầu não và bọn tay sai có nợ máu với cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, lực lượng Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) đã cử hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang (ANVT) miền Nam từ B1 đến B19 chiến đấu, diệt ác, trừ gian, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng, Mặt trận, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam và Trung ương Cục.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam đã diễn ra gần hai tháng mùa Xuân 1975 với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh đánh vào Sài Gòn. Trong thời khắc trọng đại của lịch sử dân tộc, lực lượng CANDVT đã xác định phải bảo vệ vững chắc biên giới miền Bắc, đồng thời tích cực chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam, với phương châm "trước vững, sau mạnh". 

Hòa cùng khí thế thần tốc, quyết thắng của quân dân cả nước, Bộ Tư lệnh CANDVT (nay là BĐBP) đã cử nhiều đoàn công tác vào làm việc với Trung ương Cục cùng các đồng chí Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt để khảo sát tình hình triển khai lực lượng bảo vệ biên giới, hiệp đồng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và chuẩn bị bảo vệ vùng mới giải phóng.

d7gs_7a-1.jpg
Tuần tra, kiểm soát vùng cửa khẩu Cam Ranh, Khánh Hòa. Ảnh: Tư liệu
 
Đại tá Bùi Long, nguyên Chủ nhiệm Chính trị BĐBP nhớ lại: Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bờ biển tại các các vùng thuộc cách mạng quản lý, trước đại thắng mùa xuân năm 1975, hàng loạt các đồn, trạm BP, chốt kiểm soát của lực lượng ANVT đã được thiết lập trên các tuyến biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Cam-pu-chia. Ngày 27-1-1973, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, ANVT miền Nam đã triển khai thành lập và xây dựng hai Đồn ANVT Lò Gò, Xa Mát tại Tây Ninh. Đây là hai đồn đầu tiên được thành lập trên tuyến biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Bên cạnh đó, cũng đồng thời cho triển khai các cơ sở đầu tiên để chuẩn bị cho việc xây dựng  một hệ thống đồn, trạm BP trên toàn bộ biên giới miền Nam Việt Nam sau này.

Sau Hiệp định Pa-ri, chiến trường Trị Thiên Huế chia thành hai khu vực: Vùng giải phóng chiếm 83% diện tích, vùng địch kiểm soát chiếm 17%, đường ranh giới giữa hai khu vực là dòng sông Thạch Hãn. Nhân dân Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đã đổ ra đường chào đón hòa bình, chào đón quân giải phóng. Lá cờ giải phóng tung bay trên mảnh đất kiên trung. Lực lượng ANVT Quảng Trị lúc này phải quản lí tuyến biên giới Việt - Lào và đoạn bờ biển của vùng mới giải phóng.

Đồn ANVT Lao Bảo, Phân đội 3 bảo vệ cảng Đông Hà, Phân đội 190 bảo vệ Cửa Tùng, Đồn ANVT 170 Cửa Việt, Trạm kiểm soát Nam Hiền Lương đã nhanh chóng được triển khai xây dựng trong nửa đầu năm 1973. Vừa xây dựng đồn trạm mới, các chiến sĩ quân hàm xanh nơi đây vừa tập trung giúp đỡ nhân dân xây lại những nếp nhà trên đống hoang tàn, đổ nát. Các trạm an ninh trở thành điểm tựa cho bà con giữa lúc bộn bề hậu chiến.

Thực hiện chủ trương của Đảng ta lúc bấy giờ là "hòa hợp dân tộc", những chiến sĩ CANDVT đã chủ động tiếp xúc, giao lưu với những người lính phía bên kia. Qua hàng rào kẽm gai, họ chia nhau điếu thuốc, nói chuyện quê hương. Có tiếng gọi nào cao hơn tiếng gọi của đồng loại, có sức mạnh nào cao hơn sức mạnh của chính nghĩa…! Nhiều binh sĩ, sĩ quan ngụy đã thực sự chuyển biến tư tưởng, buông súng đầu hàng. Những hình ảnh đầy nhân đạo và tinh thần dân tộc ấy đã được đạo diễn Vũ Ngọc Khôi ghi lại trong những thước phim tư liệu lịch sử quý giá hiện lưu trữ tại Điện ảnh BĐBP.

Cũng tại Quảng Trị, các chiến sĩ ANVT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an toàn 4 đợt bàn giao và trao đổi tù binh bên bờ Thạch Hãn. Các anh đã chứng kiến biết bao câu chuyện cảm động của những chiến sĩ trong giờ phút trở về từ nhà tù của địch. Thượng tá Trần Anh Tuấn, cán bộ CANDVT, thành viên Phái đoàn giám sát quốc tế của Việt Nam đã xúc động vô cùng khi chứng kiến nhiều tù nhân kiên trinh sau khi qua bờ Bắc liền cởi bỏ trang phục cùng mọi thứ mang theo ném trả về bờ Nam. Những người tù chính trị ốm yếu, mang trong mình di chứng của bao lần bị địch tra tấn… đều được các chiến sĩ dìu dắt, chăm sóc tận tình. 40 năm sau, trò chuyện cùng tôi về những ngày tháng ấy, ông bảo rằng, đó thực sự là ấn tượng khó quên trong đời, bởi cảm thấy sao mà thương thương yêu quý những chiến sĩ của ta quá đỗi.

Giữa lúc những chiến sĩ ANVT Quảng Trị bận rộn với hàng trăm nhiệm vụ trong vùng mới giải phóng thì ngày 10-3-1975, ta đã mở một chiến dịch then chốt, giáng đòn quyết định vào Buôn Ma Thuột. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, hơn 10 vạn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu; hơn 60 vạn dân thuộc các dân tộc Tây Nguyên được giải phóng, cùng cất cao tiếng hát tự do. Trên miền đất còn nóng bỏng lửa đạn, nhiều nhiệm vụ cấp bách đã đặt ra đối với Tỉnh ủy, chính quyền và lực lượng ANVT các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk.

Để đảm bảo an ninh biên giới trên địa bàn chiến lược này, từ năm 1975 đến năm 1976, ta đã triển khai 14 đồn và 3 đơn vị cơ động để chốt giữ, kiểm soát hơn 700km đường biên giới, truy quét bọn FULRO và tàn quân ngụy chạy trốn, đẩy lùi bọn phản cách mạng nước bạn Cam-pu-chia. Mỹ ngụy cũng để lại Tây Nguyên một thế hệ những thanh niên trẻ bị đầu độc trong những cơn say ma túy. Các em là nạn nhân của một cuộc sống sa đọa, không lý tưởng, không tương lai. Những chiến sĩ ANVT đã ở bên các em, giúp các em vượt qua cám dỗ, tìm ra mục đích cuộc sống của chính mình và hòa cùng nhịp sống mới với buôn làng.

Phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, cũng trong tháng 3-1975, chiến dịch Xuân - Hè ở Trị Thiên - Huế bắt đầu các hoạt động quân sự nghi binh. Các phân đội ANVT dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy mặt trận đã luồn sâu vào vùng địch, cùng các lực lượng địa phương đồng loạt nổ súng nổi dậy tại chín huyện ven đô Trị Thiên. Trong trận đánh giải phóng Hải Lăng, đồng chí Trương Đức Ninh, chiến sĩ Phân đội 201 đã một mình sử dụng B40, tiểu liên và thủ pháo, diệt 12 tên địch. Phá vây không thành, đồng chí bị thương và bị địch bắt giam. 

40 năm sau, chứng kiến sự đổi thay mạnh mẽ và bền vững của Đà Nẵng, Đại tá Nguyễn Thành Mai, chiến sĩ ANVT tham gia tiếp quản 10 tỉnh Trung Trung bộ, thành viên Ban quân quản vẫn cảm thấy rất tự hào. Ông kể: "Ngày 26-3, Huế hoàn toàn giải phóng. Ta đã đánh tan tập đoàn phòng thủ của địch gồm 4000 quân thiện chiến nhất của chúng tại chiến trường này. Dẫu vẫn còn ngổn ngang dấu tích của những cuộc di tản, tháo chạy dẫm đạp lên nhau, song cố đô đã trở nên bình yên biết mấy khi những em thơ theo đoàn người đi dọc Trường Tiền chào đón hòa bình. Thanh niên Huế hát vang bài ca cách mạng bấy lâu nay giấu giếm chỉ dám hát thầm và những người lính một thời lầm đường lạc lối vứt súng trở về quê nhà, làm ăn lương thiện. CANDVT Vĩnh Linh, Quảng Bình đã kịp thời chi viện để ANVT Trị Thiên Huế vừa tiến quân về chốt giữ các mục tiêu phía trước, vừa bảo vệ vững chắc tuyến sau, đồng thời góp phần đưa hơn 10 vạn dân từ Đà Nẵng - Huế trở về quê cũ".

3 ngày sau giải phóng Huế, lúc 15 giờ, ngày 29-3, sau khi giải phóng Tam Kỳ, Quảng Ngãi, quân ta đã chiếm lĩnh toàn bộ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và hoàn toàn làm chủ thành phố Đà Nẵng. Từ những căn cứ khác nhau, 3 Đại đội ANVT vào Đà Nẵng và một Phân đội vào thị xã Hội An với phương châm "đánh địch mà đi", công tác tiếp quản các công sở của chế độ cũ như Ty Cảnh sát Đà Nẵng, trụ sở làm việc của CIA… được tiến hành nhanh chóng. Các cơ sở kinh tế - văn hóa được bảo đảm an toàn, dòng điện thắp sáng cho thành phố được duy trì ổn định, giúp các công xưởng cũng như đời sống của người dân diễn ra bình thường.

Sau Đà Nẵng là các tỉnh thuộc đồng bằng Khu 5 từ Phú Yên, Khánh Hòa tới Ninh Thuận, Bình Thuận được giải phóng. Đồng chí Nguyễn Ngọc Châu - nguyên Đại đội trưởng ANVT Phú Yên cho biết, tuy không có những trận đánh ác liệt với hỏa lực mạnh như chiến trường khác, song ở đây đã có rất nhiều các chiến sĩ ANVT phải hy sinh trên đường tiến vào giải phóng Khu 5, bởi những loạt đạn bắn tỉa của một số kẻ ngoan cố đang trên đường rút chạy.

Nén lại đau thương và căm hận, mệnh lệnh truyền đi khắp các đơn vị là phải triển khai tích cực các biện pháp nhằm ổn định tình hình ngay từ những ngày đầu. Và chỉ vài ba ngày sau giải phóng, những hàng dừa lại líu ríu bóng trẻ thơ hái quả. Những làng biển đã bắt đầu có bóng thuyền ra lộng vào khơi bởi vững lòng hơn khi có bóng người chiến sĩ ANVT gác nơi cửa bể. Một cuộc sống mới lại bắt đầu.

Những ngày tháng Tư lịch sử này, chúng tôi lại có dịp vào thăm Đà Nẵng. Nhìn những sỹ quan Biên phòng của thời đổi mới "quân phong, quân kỷ” nghiêm trang, tác phong đĩnh đạc làm thủ tục nhập cảnh khách nước ngoài, lòng không khỏi tự hào. 40 năm trước, cũng vào những ngày trời xanh biển biếc như hôm nay, cảng Đà Nẵng những ngày đầu mới giải phóng đã tiếp đón hàng trăm con tàu quốc tế cập bến.

Một cuộc chiến đấu thầm lặng trên trận tuyến không tiếng súng đã mở ra với những người lính CANDVT Quảng Đà. Mưu trí và tỉnh táo, công tác kiểm tra, kiểm soát được xiết chặt, quyết tâm không để lọt một dấu hiệu, một đối tượng khả nghi nào có thể xâm nhập hòng chống phá chính quyền cách mạng còn non trẻ. Truyền thống, nghiệp vụ ấy vẫn vẹn nguyên giá trị, vẫn hiển hiện trong từng nhiệm vụ, từng hoạt động của người lính Biên phòng Đà Nẵng hôm nay.
Bài 2: Vẹn toàn một dải biên phòng
Phạm Vân Anh