Thứ 7, 18/01/2020, 14:34 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Giải pháp toàn diện xây dựng, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia

25/09/2019 - 22:49

Biên phòng - Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các cơ quan, đơn vị, ban ngành, đoàn thế và của cả hệ thống chính trị, trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã có nhiều chuyển biến rõ rệt.

Quần chúng nhân dân trên địa bàn biên giới luôn chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, tích cực tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh, trật tự. Báo Biên phòng xin trân trọng giới thiệu bài tham luận của Phó Chủ tịch UBND huyện Bát Xát Sùng Thị Hồng Mai góp ý hoàn thiện Luật Biên phòng Việt Nam tại Hội thảo Luật Biên phòng Việt Nam được tổ chức ngày 23-9 tại TP Lào Cai.

Huyện Bát Xát là một huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lào Cai, phía Đông giáp thành phố Lào Cai, phía Bắc giáp huyện Kim Bình (Trung Quốc), phía Nam giáp huyện Sa Pa, phía Tây giáp huyện Phong Thổ (Lai Châu). Tổng diện tích đất tự nhiên là 105.662,38 ha, bao gồm 22 xã và 1 thị trấn với 191 thôn bản, 10 tổ dân phố, dân số toàn huyện 82.733 người, gồm 25 dân tộc anh em sinh sống. Trong đó có 10 xã biên giới, chiều dài đường biên giới 84,621 km với 15 cột mốc giới, từ cột mốc giới số 85(2) đến cột mốc giới số 99(2). Có 2 cửa khẩu phụ nằm tại xã Bản Vược, xã Y Tý và 1 lối mở tại thôn Lũng Pô 1 xã A Mú Sung. 

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các cơ quan, đơn vị, ban ngành, đoàn thể và của cả hệ thống chính trị, trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến rõ rệt; quần chúng nhân dân trên địa bàn biên giới luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương, tích cực tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh, trật tự.

Tuy nhiên, địa bàn huyện Bát Xát còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp: Các thế lực thù địch lợi dụng khu vực biên giới phức tạp để thực hiện mưu đồ chống phá. Cùng với đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làm nảy sinh không ít yếu tố tiêu cực đó là sự gia tăng các loại tội phạm xuyên quốc gia, mua bán trái phép các chất ma tuý, hoạt động rửa tiền, mua bán người, trẻ em và buôn bán, xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới...Vì vậy, cùng với đẩy mạnh lộ trình hoạch định về đường biên giới chung với quốc gia láng giềng phù họp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và luật pháp quốc tế, thời gian tới việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia cần tập trung vào mấy vấn đề sau đây:

Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải trên cơ sở nắm vững và vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều ước quốc tế về biên giới mà Nhà nước ta đã ký kết.

Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về biên giới bao giờ cũng xuất phát vì lợi ích quốc gia. Trước sau như một, Đảng ta luôn khẳng định, các vấn đề về chủ quyền, biên giới quốc gia phải được giải quyết bằng đàm phán, thương lượng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Trong quá trình đàm phán về biên giới, hai bên không tiến hành những hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những vấn đề nảy sinh trên tinh thần xây dựng, góp phần ổn định khu vực và thế giới.

Trong điều kiện mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các hoạt động thông thương qua biên giới theo tinh thần hợp tác, cùng phát triển, đúng pháp luật của Việt Nam. Đồng thời, cũng khẳng định lập trường kiên quyết đấu tranh không thỏa hiệp khi chủ quyền biên giới quốc gia bị xâm hại, nghiêm trị những hành động vi phạm pháp luật, vi phạm các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc thừa nhận. Quán triệt đầy đủ và sâu sắc những vấn đề trên là cơ sở định hướng về tư tưởng và hành động của chúng ta trong quản lý, bảo vệ biên giới.

Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, do Nhà nước điều chỉnh bằng quyền lực của mình đối với hoạt động của các lực lượng, các ngành, các cấp, dựa trên sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quản lý, bảo vệ biên giới là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ biên giới là BĐBP (lực lượng nòng cốt, chuyên trách), Công an, Hải quan, Quân đội, chính quyền và nhân dân ở khu vực biên giới. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi các lực lượng phải quán triệt quan điểm, chủ trương trên vào từng nhiệm vụ cụ thể, nhưng phải rất linh hoạt, sáng tạo, kết hợp với nghệ thuật xử lý mềm dẻo, khôn khéo để đạt được mục đích. Bên cạnh đó, còn phải kịp thời phản ánh những động thái mới nảy sinh; tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện.

Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các điều ước quốc tế về biên giới là cần thiết, nhưng quyết không phải là sự vận dụng tùy tiện, vô nguyên tắc, “mà là sự vận dụng có lý, có tình; xem xét, giải quyết bất cứ một sự việc cụ thể nào cũng phải đặt nó trong cái tổng thể, nghĩa là phải “vừa nhìn thấy cây, vừa nhìn thấy rừng”! tránh suy nghĩ, hành động thô cứng, làm cho quan điểm, chính sách của Đảng Nhà nước thì “mở”, nhưng hành động cụ thể thì chặt chẽ đên máy móc, hoặc đối tượng thì “mở” nhưng đối tác thì bị ngăn cản...

Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia một cách toàn diện:

Đường biên được xác lập một cách rõ ràng, minh định; hệ thống mốc quốc giới được xây dựng, quản lý và bảo vệ vững chăc thì chủ quyên lãnh thổ quốc gia tất yếu được toàn vẹn. Song trong điều kiện mới, đạt được yêu cầu chiến lược đó cũng chưa đủ. Nếu trên đất nước xuất hiện một vùng “tự trị” thì cũng đồng nghĩa với việc đất nước bị chia cắt, mặc dù không có họa xâm lăng; Trong mọi thời kỳ lịch sử, ông cha ta luôn coi khu vực biên giới là nơi “quan yếu” của đất nước. Ngày nay, do vị trí địa lý, đặc điểm địa bàn, địa hình và một số nguyên nhân khác, khu vực biên giới vẫn là khu vực nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lịch sử, từ đó lôi kéo, kích động nhân dân chống phá chính quyền cách mạng. Song không loại trừ tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân khu vực biên giới đã bị xâm hại. Điều đó có nghĩa là, kẻ phá hoại hoàn toàn không cần qua lại biên giới nhưng thông qua các phương tiện truyền thông vẫn có thể thực hiện được âm mưu xấu độc.

Vì vậy, phải quản lý, bảo vệ biên giới một cách toàn diện, cả biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc gia trong lòng đất, biên giới quốc gia trên không, bao gồm: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ quyền lợi (vật chất và tinh thần) của nhân dân; bảo vệ môi sinh, môi trường, tài nguyên; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và lợi ích quốc gia, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới; chống xâm nhập trái phép và chống buôn lậu qua biên giới. Tất cả các nội dung đó phải gắn chặt với bảo vệ chế độ XHCN, giữ gìn độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, kịp thời cùng với các lực lượng nội địa phát hiện và đập tan âm mưu chống phá cách mạng ở khu vực biên giới.

Yêu cầu “toàn diện” còn thể hiện ở chỗ, quản lý, bảo vệ biên giới đi đôi với xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, đặt hai nhiệm vụ này trong một thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Khu vực biên giới vững mạnh là nền tảng sức mạnh vật chất, tinh thần đối với việc quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới. Ngược lại, quản lý, bảo vệ chặt chẽ biên giới sẽ góp phần triệt tiêu các nguy cơ, ngăn cản cái xấu độc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt.

Trong điều kiện mới của đất nước, ổn định biên giới lâu dài là mục tiêu, đồng thời là chủ trương chiến lược của Đảng. Chỉ có thực hiện được mục tiêu này mới góp phần bảo đảm cho đất nước ổn định để phát triển. Một biên giới hòa bình, thắm tình hữu nghị anh em là cơ sở của sự đồng thuận và là điều kiện để loại bỏ sự xung đột, lấn chiếm, vi phạm chủ quyền biên giới, lãnh thổ. Nhưng như thế cũng chưa đủ. Biên giới ấy còn cần phải là biên giới cùng hợp tác, cùng phát triển để xóa bỏ đói nghèo, lạc hậu, nâng cao trình độ dân trí, đời sống, tinh thần của nhân dân hai bên. Có như vậy mới tạo ra môi trường lành mạnh, làm cho các thế lực thù địch (kẻ thù chung của hai bên) không còn địa bàn thuận lợi để hoạt động phá hoại. Như vậy, quản lý, bảo vệ biên giới, cùng với các nội dung, nhiệm vụ trên, còn phải tạo mọi điều kiện cho nhân dân hai bên đi lại làm ăn, giao lưu văn hóa, xây dựng mối quan hệ bang giao, hòa hiếu, thân thiện từ ngay trong các bản làng, phum sóc, chính quyền ở khu vực biên giới đến chính quyên Trung ương; đồng thời, cùng nhau họp tác, phát triển kinh tế, xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn địa bàn biên giới, nhất là trong lĩnh vực chống khủng bố, chống các tội phạm xuyên quốc gia.

Kết hợp chặt chẽ chính trị, quân sự, an ninh và đối ngoại trong quản lý, bảo vệ biên giới:

Quản lý, bảo vệ biên giới là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tình hình xảy ra trên biên giới thường liên quan đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại hoặc trật tự, an toàn xã hội. Đối tượng đấu tranh trong quá trình quản lý, bảo vệ biên giới lại rất đa dạng, cả công khai và bí mật, cả có vũ trang và phi vũ trang... Thực tế cho thấy, hành động lấn chiếm biên giới có khi là chủ trương của chính phủ nước láng giềng, nhưng có khi chỉ là chính sách của một địa phương; hoặc có khi một hoạt động bất hợp pháp ở nước này nhưng có thể lại là hợp pháp ở nước hữu quan; tội phạm ở nước này nhưng có thể lại là đồng minh của nước kia... Bởi vậy, kết hợp chặt chẽ chính trị, quân sự, an ninh và đối ngoại trong quản lý, bảo vệ biên giới là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ thực tiễn.

Muốn giải quyết tốt mối kết hợp nêu trên, quá trình quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia phải tùy vào tính chất vụ việc, thời điểm xảy ra vụ việc, nhất là động cơ, mục tiêu chính trị cụ thể để vận dụng hình thức, biện pháp đấu tranh cho phù họp. Khi phải đối phó với xung đột, lấn chiếm biên giới có tố chức, có vũ trang thì hoạt động quân sự, hành động tác chiến nổi lên hàng đầu, nhưng vẫn phải kết hợp với chính trị, ngoại giao để giải quyết. Khi đấu tranh chống tội phạm, chống xâm nhập thì dùng biện pháp an ninh, kiểm soát là chủ yếu, kết hợp với biện pháp đối ngoại để hợp tác đấu tranh với lực lượng bảo vệ biên giới hai bên; trường hợp khủng bố, còn cần kết hợp với biện pháp quân sự đế tiến công tội phạm. Nếu xảy ra bạo loạn ở khu vực biên giới, phải chủ động kết hợp nhiều biện pháp đấu tranh ngăn chặn, không để vụ việc lan rộng và có phương án đối phó với kẻ xấu khi chúng lợi dụng cơ hội này đế lấn chiếm, xâm nhập biên giới.

Đối ngoại là biện pháp quan trọng trong quản lý, bảo vệ biên giới. Biện pháp này thường được tiến hành thường xuyên, song khi đã xảy ra vụ việc thì cùng lúc cần vận dụng nhiều hình thức đối ngoại, cả trực tiếp và gián tiếp, cả hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đối ngoại Biên phòng và đối ngoại nhân dân ở khu vực biên giới để tăng hiệu quả đối ngoại, kịp thời hỗ trợ cho các biện pháp khác, nhất là khi phải đấu tranh với vụ việc có tính chất nghiêm trọng.

* Để hoàn thành nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia - trong tình hình hiện nay, một tư duy, một tầm nhìn chiến lược thích ứng trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia là điều vô cùng cần thiết và cấp bách đang đặt ra. Tư duy mới về công tác biên phòng đã giúp chúng ta nhận thức rõ ràng hơn mối quan hệ giữa giữ vững chủ quyền, ANBG quốc gia với xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng. Thời kỳ đổi mới là thời kỳ mở rộng giao lưu, họp tác quốc tế, thời kỳ phải củng cố hòa bình, tạo môi trường ổn định để xây dựng đất nước. Hợp tác cùng phát triển là xu thế chung của thế giới và cũng là lợi ích chung của mọi quốc gia. Do đó, nguyên tắc đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia cần được kết hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ với đấu tranh củng cố xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng, trở thành định hướng cơ bản trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể về biên giới quốc gia. Cần nhận thức rõ hơn và giải quyết đúng đắn hơn mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác, giữa hợp tác và đấu tranh, giữa "mở cửa và gác cửa", giữa xây dựng và bảo vệ biên giới.

Tình hình thế giới, khu vực và trong nước luôn thay đổi, diễn biến các vụ việc cũng rất đa dạng, phức tạp do đó việc đổi mới chủ trương, đối sách cũng phải được thực hiện thường xuyên, bám sát sự phát triển của thực tiễn. Do vậy, phải điều chỉnh, đề ra những chủ trương, đối sách mới cho phù hợp tình hình cụ thể và đối tượng cụ thể, từng lúc, từng nơi nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Mỗi chủ trương, đối sách mới đều thể hiện hai mặt: Phải mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt, khôn khéo về phương pháp và sách lược, nhưng phải giữ được những vấn đề có tính nguyên tắc, lợi ích cục bộ phải phục vụ lợi ích toàn bộ. Thực tế, các chủ trương, đối sách về công tác biên phòng trong thời gian qua đã chứng minh tính đúng đắn khi giải quyết tốt các vấn đề liên quan chủ quyền ANBG, vùng biển, trong quản lý, bảo vệ ANTT trong khu vực biên giới, trong xử lý các vụ gây rối, gây bạo loạn, các hoạt động tuyên truyền phát triển đạo trái pháp luật và với các hoạt động nhằm thành lập nhà nước Mông. Đây là kết quả của quá trình đối mới toàn diện, đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng. Thực chất là sự điều chỉnh, thay thế bổ sung, phát triển hoàn thiện nội dung, cách thức tiến hành các biện pháp công tác biên phòng cho phù hợp với thực tiễn đòi hỏi của công tác biên phòng.

Trước hết là đổi mới phương pháp vận động quần chúng (VĐQC), làm cơ sở nền tảng cho các biện pháp công tác khác. Trong những năm qua, công tác VĐQC trong BĐBP đã có sự đổi mới toàn diện cả về nhận thức và hành động, quán triệt, thực hiện tốt phương châm: "Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin", đi vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, đem lại lợi ích thiết thực. Trọng tâm công tác VĐQC tập trung hướng vào tuyên truyền, giác ngộ, xây dựng phong trào hành động cách mạng của quần chúng bảo vệ biên giới theo hướng nhân dân tự quản đường biên, cột mốc, tàu thuyền, bến bãi và ANTT buôn, sóc, bản, làng. Để tạo động lực cho phong trào quần chúng, các đơn vị phải chủ động phối hợp địa phương và các ngành vừa tuyên truyền nâng cao giác ngộ cho quần chúng vừa chăm lo giải quyết các nhu cầu thiết thực của nhân dân, thực hiện tốt cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí.

Công tác trinh sát được xác định là mũi nhọn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền ANBG, đặc biệt là trong điều kiện hòa bình. Trong triển khai chỉ đạo, nét đổi mới của công tác trinh sát biên phòng tập trung ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động phòng ngừa tội phạm với hoạt động đấu tranh với các loại tội phạm. Cùng với đổi mới trong chỉ đạo phòng ngừa tội phạm bao gồm hai nhóm giải pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ, BĐBP đã đổi mới nhiều mặt trong đấu tranh chống tội phạm, trong đó nổi bật là đấu tranh các vụ án, lập các chuyên án và tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự.

Cùng với đổi mới các biện pháp công tác biên phòng khác, công tác kiểm tra, kiếm soát xuất nhập cảnh, xuất nhập biên được đổi mới mạnh mẽ trên cơ sở quán triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng chỉ đạo: "Mở cửa đi đôi với gác cửa", "giữ vững kỷ cương phép nước qua lại biên giới đi đôi với tạo sự thông thoáng cho nhân dân qua lại biên giới thăm thân, làm ăn phục vụ tốt chủ trương mở cửa, mở rộng hợp tác quốc tế của Đảng". Sự đổi mới biện pháp kiểm soát hành chính nhũng năm qua tập trung vào một số nội dung sau đây: Loại bỏ những quy định, thủ tục rườm rà, gây phiền hà cho người qua lại biên giới, công khai hóa những quy định qua lại biên giới; phối hợp chặt chẽ với các ngành hữu quan (hải quan, công an, kiểm dịch...) đổi mới sắp xếp lại phương pháp kiểm tra, kiểm soát, tránh trùng lặp, gây phiền hà cho người qua lại biên giới, giảm bớt sơ hở dễ gây ra những tiêu cực; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào công tác kiểm tra, kiểm soát, vừa bảo đảm nhanh chóng, chính xác thông suốt, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành, chỉ huy, chỉ đạo của các cấp.

Về đổi mới công tác đối ngoại biên phòng, cần phân biệt rõ công tác đối ngoại với công tác đối ngoại biên phòng để chỉ đạo các đơn vị thường xuyên quan hệ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bảo vệ biên giới của các nước láng giềng và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương biên giới quan hệ với chính quyền địa phương các nước láng giềng giải quyết kịp thời, có hiệu quả các vụ việc xảy ra trên biên giới theo thẩm quyền, giữ biên giới ổn định, hòa bình, thực hiện tốt phương châm "Vừa hợp tác, vừa đấu tranh có lý, có tình".

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia, BĐBP còn đổi mới biện pháp vũ trang, biện pháp công tác kỹ thuật, công tác nắm, xử lý tình hình..., đổi mới sự phối hợp giữa BĐBP với các ngành, các câp, các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ công tác biên phòng. Để thực hiện có hiệu quả các nội dung này, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; trong đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản ỉỷ, điều hành của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các lực lượng trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia:

Bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện tốt vấn đề đó vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện tiên quyết để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này. Trong quá trình triển khai, phải tuân thủ nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia. Sự lãnh đạo của Đảng phải tập trung, thống nhất từ Ban Chấp hành Trung ưong, mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đến các tỉnh ủy, thành ủy và các cấp ủy đảng trong BĐBP; thực hiện lãnh đạo toàn diện trên các nội dung và phạm vi của các cấp.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia dài hạn, ngắn hạn và thống nhất quản lý, điều hành với bước đi phù hợp; chú trọng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật và thực hiện quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia bằng pháp luật; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về biên giới quốc gia. Bên cạnh đó, tập trung xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp giữa các ngành, các lực lượng, nhất là quy chế phổi họp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao; giữa Đảng ủy BĐBP với các tỉnh ủy, thành ủy; giữa Bộ Tư lệnh BĐBP với các quân khu và Quân chủng Hải quân, Cảnh sát biển...; trong đó, Bộ Quốc phòng chủ trì, BĐBP làm nòng cốt, nhằm phối hợp, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các cấp, các ngành, các địa phương, tạo sức mạnh tổng hợp để xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Đấy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về biên giới và bảo vệ biên giới quốc gia:

Quản lý và bảo vệ biên giới là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và rất phức tạp, bao hàm nhiều nội dung, nhiều lực lượng tham gia, nhưng để các lực lượng tham gia có hiệu quả, phải có sự thống nhất về nhận thức và hành động. Có như vậy mới tạo nên sức mạnh tống hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Để các cấp, các ngành, các địa phương và toàn dân nhận thức sâu sắc về biên giới và bảo vệ biên giới quốc gia cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục. Yêu cầu đối với công tác này là phải làm cho mọi người nhận thức đúng về biên giới, nhất là vị trí, vai trò và các quy chế, hiệp ước, hiệp định,... về biên giới, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; nhận thức rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị ở khu vực biên giới. Qua đó, mỗi tố chức, lực lượng và công dân thấy rõ tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; trong đó, BĐBP là lực lượng chuyên trách; từ đó, xác định rõ quyết tâm, trách nhiệm tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.

Để thực hiện tốt yêu cầu đó, Bộ Tư lệnh BĐBP cần làm tốt công tác tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Quân đội và phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến các địa phưong đấy mạnh tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới. Đồng thời, các cấp ủy, chỉ huy BĐBP đấy mạnh công tác giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền thấu suốt nhiệm vụ của Quân đội, của đơn vị; xác định rõ đối tượng, đối tác; nắm vững các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia cùng những kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ công tác biên phòng. Trong quá trình thực hiện, phải thường xuyên đối mới nội dung, hình thức, phương pháp cho phù hợp với từng đối tượng; kết hợp giữa giáo dục thường xuyên và giáo dục trọng điểm nhân dịp các ngày kỷ niệm lớn của dân tộc, nhất là “Ngày Biên phòng toàn dân" đồng thời, sớm đưa nội dung giáo dục về xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG vào chương trình giáo dục phổ thông, nhằm dấy lên phong trào cả nước hướng về biên giới, biển, đảo.

Tiêp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và các văn bản pháp lý về biên giới:

Những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả quan trọng, song nhìn chung công tác xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về biên giới còn nhiều hạn chế, bất cập. Đến nay, chúng ta vẫn chưa có văn bản pháp luật về quản lý biên giới vùng trời và trong lòng đất; nhiều văn bản còn chồng chéo, mâu thuẫn, nhất là các văn bản về biển và quản lý biển. Thời gian tới, việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật cần tiếp tục được đẩy mạnh hơn, bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, có trình tự từ “gốc đến ngọn” và mang tính khả thi cao. Trước hết, tập trung nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để sớm ban hành luật Biên phòng Việt Nam làm cơ sở để xây dựng các lực lượng BĐBP ngày càng vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tập trung xây dựng BĐBP vững mạnh, đủ sức là lực lượng chuyên trách trong xây dựng, quản lỷ, bảo vệ biên giới quốc gia:

Các đơn vị BĐBP cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; Nghị quyết 11/1995-NQ-TW của Bộ Chính trị về xây dựng BĐBP trong tình hình mới, Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 29/8/2018 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, tập trung xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong quá trình xây dựng, cần nâng cao chất lượng về chính trị, nhất là xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, coi trọng quy hoạch, xây dựng tổ chức biên chế và xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng tinh, gọn, có chất lượng cao, giỏi về nghiệp vụ, quân sự, đối ngoại và năng lực vận động quần chúng. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chỉ huy, chuyên môn kỹ thuật; chú trọng nâng tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong cơ cấu đội ngũ cán bộ, nhất là quân nhân chuyên nghiệp ở các đồn biên phòng.

Cùng với đó, chú trọng tăng cường trang bị, vũ khí, phương tiện kỹ thuật cho BĐBP, nhất là các phương tiện vận tải, tuần tra, kiểm soát, cơ động lực lượng trên bộ, trên biển; phương tiện trinh sát thám không, thông tin liên lạc để nâng cao khả năng chỉ huy, chỉ đạo tác chiến và xử trí kịp thời, có hiệu quả các tình huống phức tạp, đột xuất trên biên giới và biển, đảo.

Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình bảo vệ biên giới, gắn với điều chỉnh đưa dân ra sát biên giới, bảo đảm vừa phát triển sản xuất, vừa bảo vệ đường biên, mốc giới:

Trên cơ sở điều tra, khảo sát, quy hoạch từng tuyến biên giới và vùng biển, đảo, Nhà nước dành một khoản ngân sách thích đáng, kết hợp với huy động mọi nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực biên giới, nhất là trên các tuyến trọng điểm. Trong đó, tập trung củng cố, xây dựng hệ thống đường giao thông, đường tuần tra biên giới, mạng lưới y tế, bưu điện và hệ thống thủy lợi,... bảo đảm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ biên phòng, quốc phòng – an ninh và đời sống dân sinh. Cùng với xây dựng cơ sở hạ tầng, chú trọng quy hoạch, xây dựng các công trình phòng thủ về quân sự, dân sự ở khu vực biên giới, nhất là củng cố, xây dựng mới hệ thống đồn, trạm biên phòng; hệ thống đài quan sát và trinh sát kỹ thuật; hệ thống công sự trận địa trên từng tuyến biên giới, vùng biển phù hợp với ý định bảo vệ biên giói quốc gia. Đi đôi với xây dựng phải có kế hoạch, phân cấp bảo vệ, kiểm tra và tu bổ thường xuyên, bảo đảm tuổi thọ của các công trình, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia trong mọi tình huống.

Tăng cường công tác đối ngoại biên phòng, phối hợp giải quyết tốt những vấn đề xảy ra, xây dựng biên giới hòa bình, ốn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển:

Các cấp, các ngành, các lực lượng nhất là lực lượng BĐBP tiếp tục quán triệt và thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng; đa dạng hóa các hình thức quan hệ hợp tác với các nước về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng – an ninh; giải quyết các vấn đề về biên giới quốc gia thông qua đàm phán, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau. Trong quan hệ đối ngoại cũng như trong đàm phán giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ, phải nắm vững luật pháp quốc tế, nghệ thuật đàm phán, chuẩn bị chu đáo thế trận tác chiến, đấu tranh cùng các chứng cứ pháp lý và lịch sử; luôn kiên định về nguyên tắc chiến lược, nhưng linh hoạt, mềm dẻo về sách lược.

Trong mọi trường hợp, phải chú trọng giữ gìn mối quan hệ hữu nghị truyền thống, tìm ra điểm tương đồng để phát huy, chọn điếm khác biệt để cùng nhau thương lượng, giải quyết; lấy việc bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất, tuyệt đối không vì lợi ích địa phương, lợi ích kinh tế mà quên đi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố của Tố quốc. Bên cạnh đó, tiếp tục xác định rõ phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của từng cấp đối với từng nội dung đàm phán, giải quyết về biên giới, lãnh thố để vận dụng các hình thức đối ngoại cho phù hợp; trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao nhà nước với đối ngoại nhân dân và đẩy mạnh các hoạt động phối hợp giữa lực lượng chuyên trách của các bên, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội hai bên biên giới.

Để nâng cao hiệu quả áp dụng các hình thức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và biện pháp công tác biên phòng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới là một đòi hỏi tất yêu khách quan vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa sâu sắc trong thực tiễn, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Phải tiến hành thường xuyên căn cứ diễn biến tình hình các tuyến biên giới, vùng biển từng giai đoạn, từng thời kỳ theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Kết quả và những kinh nghiệm về đổi mới công tác biên phòng trong những năm qua vẫn có giá trị và ý nghĩa đối với công cuộc bảo vệ biên giới hiện nay và trong những năm tới. Tuy nhiên, phát huy và vận dụng như thế nào vào thực tiễn để có hiệu quả cao nhất mới đòi hỏi phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể và hết sức sáng tạo. Chỉ có làm tốt điều đó, chúng ta mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.