Thứ 3, 19/11/2019, 20:17 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Gắn bảo tồn với phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

28/10/2019 - 14:34

Biên phòng - Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26-5-2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020, đến nay, mạng lưới khu bảo tồn biển đang dần được thiết lập và hoàn thiện nhằm bảo vệ các hệ sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, nhà khoa học, các khu bảo tồn biển ở nước ta vẫn hoạt động chưa hiệu quả và cần nhiều giải pháp để có thể phát triển bền vững.

w8p1_21a
Toàn cảnh Hội nghị quốc gia “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm phát triển bền vững kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh”. Ảnh: Trúc Hà

Với hơn 11.000 loài sinh vật được phát hiện, tính đa dạng về cảnh quan tự nhiên và nguồn lợi thủy sản là thế mạnh của Việt Nam trong phát triển ngành kinh tế biển nói chung và kinh tế thủy sản nói riêng và đặc biệt là thiết lập các khu bảo tồn biển. Năm 2018, tổng sản lượng thủy sản nước ta đạt khoảng 7,74 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 9 tỷ USD, góp phần quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước, góp phần cải thiện sinh kế, ổn định đời sống người dân các tỉnh ven biển.

Điều đáng nói là, trong những năm gần đây, ngành thủy sản Việt Nam cũng đang đối mặt với rất nhiều khó khăn từ sức ép kinh tế như: Phát triển du lịch biển, tình trạng khai thác thủy sản bất hợp pháp vẫn còn diễn ra, sử dụng chất nổ, xung điện, hóa chất cấm, chất độc, ngư cụ bị cấm để khai thác thủy sản, tình trạng ô nhiễm môi trường biển... Những vấn đề trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm suy giảm nhanh nguồn lợi thủy sản tự nhiên và suy thoái các hệ sinh thái biển. 

Trong khi đó, thống kê của Tổng cục Thủy sản cho biết, trong 4 năm trở lại đây, tổng số vụ vi phạm các quy định quản lý Nhà nước liên quan đến công tác bảo tồn biển là 767 vụ. Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, công tác bảo tồn biển tại Việt Nam còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân. Có thể kể đến như việc khai thác hoạt động du lịch, “tận diệt” hải sản trong khi thiếu sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý Nhà nước đã và đang gây hệ quả nghiêm trọng đối với thiên nhiên biển, từng bước làm suy giảm chất lượng của các hệ sinh thái dưới nước.

Điển hình phải kể đến các địa phương như Lý Sơn (Quảng Ngãi), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Phú Quốc (Kiên Giang) là những điểm “nóng” về việc khu bảo tồn biển bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của các cơ sở du lịch. Ô nhiễm môi trường ven biển từ rác thải du lịch - đặc biệt là rác thải nhựa, đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, các hoạt động nhấn chìm gần khu vực bảo tồn biển... đang trở thành vấn đề cấp bách. 

Ngày 19-10, tại Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với UBND thành phố Đà Nẵng và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức Hội nghị quốc gia “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam nhằm phát triển bền vững kinh tế biển gắn với tăng trưởng xanh”. Thảo luận tại hội nghị, các chuyên gia cho rằng, con số về số vụ vi phạm các quy định quản lý Nhà nước liên quan đến công tác bảo tồn biển trên thực tế còn lớn hơn số vụ mà Tổng cục Thủy sản đưa ra. 

Đặc biệt, số vụ vi phạm tại một số khu bảo tồn biển đang có xu hướng tăng, nhất là các hoạt động trong khai thác, lặn bắt những loài hải sản nguy cấp quý hiếm, tình trạng tàu cá sử dụng các nghề lưới kéo, màng, ngư cụ có mắt lưới nhỏ, ngư cụ bị cấm, sử dụng chất nổ để khai thác trong và xung quanh các khu bảo tồn biển (nhất là trong phân khu nghiêm ngặt) vẫn diễn ra, nhưng cơ quan chức năng chưa có chế tài để xử phạt. Các khu bảo tồn biển việc tuần tra, phối hợp của các lực lượng chức năng chưa hiệu quả nên tình hình vi phạm pháp luật vẫn diễn ra phổ biến, dẫn đến các loài giá trị cao như hải sâm, tôm hùm, bào ngư, trai tai tượng, cầu gai sọ dừa... bị suy giảm. Trong khi đó, các khu bảo tồn biển chưa có các hoạt động nghiên cứu phục hồi tái tạo các nguồn lợi hải sản. 

Nói về những khó khăn trong việc đảm bảo hiệu quả tại các khu bảo tồn biển, nhiều đại biểu cho rằng, các khu bảo tồn biển thiếu cán bộ chuyên sâu về sinh học biển nên công tác nghiên cứu, bảo vệ không có nhiều chuyển biến tích cực. Cơ sở vật chất không đủ để triển khai các hoạt động bảo tồn như tàu thuyền, trang thiếu bị, không có lực lượng Kiểm ngư nên việc kiểm tra, giám sát kém hiệu quả. Ngoài ra, sự xung đột lợi ích giữa bảo tồn và phát triển kinh tế cũng là vấn đề nảy sinh khó giải quyết.

95g7_21b
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm. Ảnh: Trúc Hà

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường biển đã ảnh hưởng trực tiếp đến cơ sở nguồn lợi của các khu bảo tồn biển nước ta. Đặc biệt là ô nhiễm rác thải nhựa, túi ni lông ở nước ta hiện nay rất nghiêm trọng, lượng chất thải nhựa và túi ni lông vẫn ở mức rất cao, chiếm tới 8 - 12% trong chất thải rắn sinh hoạt, lắng động và quấn vào các rạn san hô ở các khu bảo tồn biển. Từ đó, khiến cho các rạn san hộ của Việt Nam đang biến độ theo chiều hướng xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững nghề cá biển nước ta. 

Chia sẻ giải pháp để kiểm soát ô nhiễm tại các khu bảo tồn biển hiện nay, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Sĩ Tuấn, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, phải có sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và bảo tồn biển, kiểm soát tình trạng khai thác nguồn lợi quá mức; tính đến sức tải của các hệ sinh thái du lịch.

“Việc cần làm là phải thiết lập các vùng không khai thác sử dụng thực sự trong các khu bảo tồn biển nhằm duy trì và bảo tồn các loài quý hiếm, duy trì tài nguyên cho khai thác thủy sản bền vững và hoạt động du lịch địa phương. Việc bảo vệ các bãi đẻ, ương giống của các loài nguồn lợi cũng cần được coi trọng và thiết lập. Và trên hết, cần có cơ chế và biện pháp thực thi để doanh nghiệp và cộng đồng đồng quản lý và sử dụng tài nguyên” - Ông Tuấn nhấn mạnh.

Trúc Hà