Chủ nhật, 17/11/2019, 22:22 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc:

Đánh giá tích cực những thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người

03/12/2018 - 14:45

Biên phòng - Trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 3, Việt Nam khẳng định coi trọng cơ chế UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), nghiêm túc triển khai các khuyến nghị UPR của các nước. Tại Hội thảo công bố Báo cáo quốc gia theo UPR chu kỳ 3 vừa qua, do Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam tổ chức, các đại biểu đánh giá tích cực những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

vmrfsbxh12-8948_f_jq4tp5e91_P1020545
Việt Nam được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc thực hiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo. Ảnh: V.H

Theo kế hoạch, Việt Nam sẽ trình bày và đối thoại về Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ 3 trước Hội đồng Nhân quyền LHQ trong tháng 1-2019. Đây được coi là cơ hội để Việt Nam cùng các nước thành viên LHQ cùng rà soát và xác định những lĩnh vực ưu tiên, những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người (QCN) ở Việt Nam. UPR là quy trình duy nhất của LHQ về QCN, được sự ủng hộ của tất cả các thành viên LHQ và bao gồm tất cả các QCN. Vì vậy, UPR thực sự là một quy trình phổ quát, bao gồm việc rà soát tình hình nhân quyền ở tất cả các nước, nhằm có một cuộc thảo luận hiệu quả giữa các quốc gia và giúp các nước rà soát quá trình bảo vệ QCN của mình.

Theo Bà Caitlin Wiesen, Quyền trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nhấn mạnh, ngày 3-12 là Ngày Quốc tế Người khuyết tật (NKT) và đây là vấn đề quan trọng đối với cả UNDP cũng như Chính phủ Việt Nam. Bà khẳng định: “Chúng tôi rất hài lòng Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của LHQ về quyền của NKT năm 2015. Điều này cho thấy cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ những quyền này”. Báo cáo quốc gia theo UPR chu kỳ 3 cũng khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm các quyền của NKT, bao gồm việc thành lập Ủy ban Quốc gia về NKT năm 2015, ban hành nhiều chương trình, đề án liên quan đến NKT…

Báo cáo cũng nêu bật những tiến bộ trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (QCN) kể từ lần rà soát chu kỳ 2, nhấn mạnh việc này được thể hiện xuyên suốt trong các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược cải cách tư pháp cũng như quá trình triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của Việt Nam, trong đó có các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận. Báo cáo đánh giá kể từ lần rà soát chu kỳ 2, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện về mặt pháp luật, thể chế, chính sách về QCN, tạo nền tảng vững chắc mang lại những kết quả thực tiễn đáng khích lệ.

Theo báo cáo, kể từ lần rà soát chu kỳ 2, nhiều chính sách mới quan trọng đã được ban hành với mục tiêu để mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ QCN, đặc biệt là nỗ lực xây dựng Chính phủ kiến tạo, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền phát triển, quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương, quyền của người lao động. Cụ thể, chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021 khẳng định nỗ lực xây dựng “Chính phủ kiến tạo, hành động quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.

Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách về giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân... Cùng với đó là những nỗ lực hoàn thiện pháp luật, chính sách về bình đẳng giới…

Về thực hiện các cam kết quốc tế và hợp tác quốc tế về QCN, kể từ lần rà soát trước, Việt Nam đã phê chuẩn thêm hai công ước về QCN: Công ước về Quyền của NKT và Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người. Như vậy, hiện Việt Nam là thành viên của 7/9 công ước quốc tế cơ bản về QCN. Theo báo cáo, Việt Nam đang tiếp tục xem xét khả năng gia nhập Công ước về Người mất tích cưỡng bức và Công ước về Quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ.

Đặc biệt, báo cáo cũng nêu bật những thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ và thúc đẩy QCN trên thực tế, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, như: Các quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do đi lại; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp…; thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, việc làm, bảo đảm nước sạch, chăm sóc y tế, giáo dục, nhà ở cho người nghèo…

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu nêu trên vẫn còn những thách thức đáng kể được chỉ ra trong báo cáo quốc gia UPR chu kỳ 3. Cụ thể là những tồn tại về khuôn khổ pháp lý, nguồn lực và chính sách nhằm thúc đẩy và bảo đảm các QCN, nhất là đối với các nhóm yếu thế trong xã hội.

Báo cáo cũng đồng thời đề xuất các hướng ưu tiên của Chính phủ Việt Nam trong thời gian tới nhằm bảo đảm sự thụ hưởng tốt hơn các quyền cơ bản của mỗi người dân. Trong đó, nhấn mạnh ưu tiên cao nhất của Việt Nam là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật củng cố các nền tảng thể chế, pháp lý và chính sách liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy QCN.

Theo bà Caitlin Wiesen, quy trình rà soát theo UPR qua các chu kỳ được thực hiện 4 năm rưỡi một lần. Đây là một quy trình quan trọng để chứng tỏ sự tiến bộ của các nước qua các chu kỳ trong lĩnh vực bảo đảm QCN. Nếu không, các khuyến nghị giống nhau sẽ tiếp tục được nhắc lại trong các chu kỳ tiếp theo. Và giai đoạn thực hiện các khuyến nghị chính là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình rà soát, cho thấy chính phủ đó tích cực có các biện pháp để bảo vệ nhân quyền như thế nào.

Theo ông Đặng Hoàng Giang, Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao, tính riêng tại UPR chu kỳ 2, Việt Nam đã chấp thuận 182/227 khuyến nghị nhận được. Tính đến tháng 10-2018, Việt Nam đã thực hiện 175 khuyến nghị (chiếm 96,2%); trong đó, 159 khuyến nghị đã được thực hiện hoàn thành, 16 khuyến nghị đã được thực hiện một phần và đang tiếp tục thực hiện. 7 khuyến nghị còn lại đang được thực hiện hoặc xem xét thực hiện vào thời điểm phù hợp. Không có khuyến nghị nào đã được chấp thuận mà chưa được xem xét thực hiện. Để triển khai các khuyến nghị UPR, Việt Nam đã chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phân công nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan. Các bộ, ngành cũng có nhiều sáng kiến để triển khai các khuyến nghị trong lĩnh vực mình phụ trách.

Việc thực hiện các khuyến nghị UPR đã có những tác động tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng hệ thống pháp luật về QCN, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân và thúc đẩy hợp tác, đối thoại ở cấp khu vực và quốc tế về vấn đề QCN. “Đây cũng chính là nguyên nhân, đồng thời là động lực để Việt Nam tiếp tục coi trọng và nghiêm túc thực hiện các cam kết theo cơ chế UPR”, ông Giang khẳng định.

Bà Caitlin Wiesen cho rằng, bằng việc tăng cường các cơ chế quốc gia về báo cáo, thực hiện và giám sát, Việt Nam có thể cho thấy có khuôn khổ luật pháp và thể chế phù hợp, hiệu quả để thực hiện toàn bộ các khuyến nghị từ tất cả các cơ chế QCN.

V.H