Thứ 4, 08/04/2020, 21:47 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình":

Đảng Cộng sản Việt Nam đồng hành cùng dân tộc - Một tất yếu lịch sử

23/12/2015 - 9:52

Biên phòng - Lâu nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch và phản động. Cứ mỗi lần chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, sự chống phá ấy càng quyết liệt hơn. Nhưng dù chúng có những mưu ma chước quỷ đến đâu cũng không thể phủ nhận được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam.

Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền, thoát khỏi xứ thuộc địa, không có tên trên bản đồ thế giới, trở thành quốc gia độc lập, tự do. Thật vậy, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đô hộ, nhân dân phải sống vô cùng cực khổ trong cảnh nước mất, nhà tan. Đáp ứng khát vọng độc lập, tự do của nhân dân, khi đó đã có nhiều cuộc vận động, phong trào, khởi nghĩa nổi lên do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, nhưng đều lâm vào bế tắc và thất bại. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có đường lối cách mạng đúng đắn, phương pháp, tổ chức đấu tranh phù hợp, đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đánh bại chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc Tổ quốc, đồng thời hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả. Đó là những mốc son vàng trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Thực tiễn lịch sử ấy, không một thế lực thù địch nào có thể phủ nhận! Dân tộc ta, nhân dân ta ghi nhận và đánh giá cao công lao to lớn của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, ghi nhận sự đồng hành của Đảng cùng dân tộc trong suốt chặng đường lịch sử hào hùng đó. Vậy mà đến nay, vẫn có kẻ với thái độ hằn học, mang nặng tư tưởng thù địch, chống đối, lại xuyên tạc lịch sử và ngụy biện rằng: "Nếu không có Đảng Cộng sản thì đã không có cuộc kháng chiến chín năm vô ích" (!). Thật trớ trêu, kệch cỡm! Họ là kẻ vô ơn, đã không thấy hoặc cố tình làm ngơ, trước biết bao xương máu của các thế hệ người Việt Nam đã đổ xuống, trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc, để có cuộc sống tự do, hạnh phúc ngày nay.

Không những xuyên tạc lịch sử, họ còn suy diễn lố bịch, vô căn cứ rằng: "Nếu không có Đảng Cộng sản, thì Việt Nam đã không rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ, với số phận không may: Đất nước trải qua chiến tranh cốt nhục tương tàn kéo dài 21 năm (1954 - 1975)". Họ lại thiển cận tới mức không thấy được bản chất sự việc - sự thật lịch sử - để rồi có sự "nhầm lẫn" đáng tiếc giữa "chiến tranh cốt nhục tương tàn - nội chiến" với chiến tranh xâm lược. Họ đã không thấy được đằng sau chế độ ngụy quyền Sài Gòn, là đế quốc Mỹ; từ đó dẫn tới không phân biệt được độc lập dân tộc thực sự với độc lập giả hiệu dựa vào ngoại bang của chế độ ngụy quyền Sài Gòn. Phải chăng đó là sự "nhầm lẫn" đáng tiếc hoặc "ngộ nhận" vô tình? Nhiều người không cho là vậy, mà thậm chí còn cho rằng: Đó là sự đánh tráo khái niệm một cách vụng về, hơn thế còn là sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn với dụng ý xấu và mưu đồ chống đối, thù địch. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của nhân dân ta, là cuộc chiến tranh chống xâm lược vĩ đại nhất trong lịch sử, nhằm mục tiêu giành độc lập dân tộc, chứ tuyệt nhiên không phải là "chiến tranh cốt nhục tương tàn" như họ rêu rao, bịa đặt. Đó là cuộc chiến tranh ái quốc chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa. Cuộc chiến tranh đó của dân tộc Việt Nam vì thế được cả thế giới ủng hộ, trong đó có nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ. Tại sao họ lại không thấy hoặc quên đi những cuộc xuống đường biểu tình của loài người tiến bộ, có cả những người dân Pháp, những người dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam?

Chưa hết, họ còn như "nằm mơ giữa ban ngày" khi phán xét: "Nếu không có Đảng Cộng sản, Việt Nam đã là một nước có chế độ dân chủ pháp trị từ lâu"(!). Từ hai cái "nếu" mà họ đưa ra ở trên, thử hỏi: Liệu Việt Nam có "chế độ dân chủ pháp trị" không? Hay bị ngoại bang đè đầu cưỡi cổ và vẫn mãi thân phận ngựa trâu? Không có Đảng Cộng sản thì đất nước Việt Nam ắt vẫn là xứ thuộc địa, không có tên trên bản đồ thế giới mà thôi! Tình cảnh đất nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như trên đã đề cập, cho thấy rõ điều đó.

Họ luôn phàn nàn rằng, đất nước đã thống nhất 40 năm, mà Việt Nam vẫn là nước chưa phát triển so với các nước trong khu vực. Cần thấy rằng, điều đó do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan. Nhưng không thể phủ nhận thực tế hiển nhiên rằng: Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, giành được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.228USD (tính theo sức mua ngang giá là trên 5.600USD). Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, với nhiều công trình hiện đại, tạo ra diện mạo mới cho đất nước. Tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực. An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm khoảng 2%/năm (các huyện nghèo giảm trên 4%/năm), đến cuối năm 2015 còn dưới 4,5%. Cả nước hiện đã có hơn 98% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Nước ta đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực. Nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Điều đó bác bỏ quan điểm thiển cận rằng, Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong các cuộc kháng chiến, còn không có năng lực lãnh đạo phát triển kinh tế.

Nực cười hơn, họ còn lập luận thô thiển rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có khoảng 4 triệu đảng viên thì không thể lãnh đạo hơn 90 triệu người của đất nước được(!). Họ quên rằng, năm 1945, Đảng ta chỉ có 5 nghìn đảng viên, nhưng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám vĩ đại. Thực tế cho thấy, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội cũng như vai trò, trách nhiệm của Đảng và từng đảng viên đã được hiến định trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013. Đó là cơ sở pháp lý mà nhân dân đã tin tưởng, ủy thác cho Đảng lãnh đạo dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Mặt khác, với những quy định về Đảng và đảng viên trong Điều lệ của Đảng, đã chứng tỏ Đảng và đảng viên có đủ điều kiện để đảm trách nhiệm vụ mà nhân dân ủy thác.

Vẫn với cách nhìn thiển cận và lập luận hồ đồ đó, họ cho rằng, trong số mấy triệu đảng viên ấy, công tác lãnh đạo lại chủ yếu tập trung vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị là sự phi lý. Thực tế cho thấy, Đảng ta luôn quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ. Bởi, cán bộ và công tác cán bộ là "cái gốc của mọi công việc", "nguyên nhân của mọi nguyên nhân", "then chốt của then chốt" như khẳng định trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 11 (khóa XI) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Vì thế, Đảng luôn xác định Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, nên đó phải là một tập thể vững mạnh, đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có tầm nhìn chiến lược, có trí tuệ, tư duy đổi mới, sáng tạo, ý chí chiến đấu, kỷ luật nghiêm minh; có tính Đảng cao, biết lắng nghe, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, quy tụ được sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân; có uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, Đảng cũng mắc phải một số hạn chế, khuyết điểm. Đó là, kinh tế - xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu. Chất lượng tăng trưởng, môi trường kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Hệ thống chính trị đổi mới chưa đồng bộ, năng lực và hiệu quả hoạt động chưa ngang tầm nhiệm vụ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi...

Những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng cũng là điều bình thường và khó tránh khỏi. Điều quan trọng là, Đảng đã nhận thấy và dũng cảm thừa nhận. Đó là dấu hiệu tích cực như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình là một đảng mạnh. Vấn đề đặt ra là, khi đã nhận thấy rõ hạn chế, khuyết điểm thì phải quyết tâm hành động. Do vậy, để Đảng tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, toàn Đảng và mỗi đảng viên cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, đảm bảo cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới đi tới thắng lợi cuối cùng. 
Đại tá, TS. Nguyễn Phú Hưng
Trưởng phòng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân