Thứ 3, 20/08/2019, 12:22 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Kỷ niệm 83 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20-10:

Chuyện tình của nữ y tá chiến trường Thành Cổ

18/10/2013 - 16:15

Biên phòng - "Khi loạt máy bay địch quần lượn trên đầu, rẽ từng ngọn cỏ giữa bãi bồi sông Hiếu, tui đưa súng lên chưa kịp bóp cò thì một bàn tay ấn xuống, giọng nói dứt khoát: Không được bắn! Còn đồng đội phía sau". Giây phút ấy, hai ánh mắt bất chợt nhìn nhau! Một tình yêu đẹp như cổ tích nảy nở giữa hai người lính cùng chung chiến tuyến, thách thức cả bom đạn chiến tranh.

 4848aiu.gif
Nữ y tá Hoàng Thị Mai hạnh phúc bên chồng.
Ký ức bi hùng

"Suốt nhiều năm sau ngày quê hương im tiếng súng, trong đầu tôi vẫn nghe tiếng đồng đội gọi cứu thương", bà Hoàng Thị Mai - nữ du kích từng có nhiều ngày bám trụ cứu thương trong trận tái chiếm Thành Cổ mùa hè đỏ lửa năm 1972 bắt đầu câu chuyện về những năm tháng băng mình dưới làn đạn địch để cứu thương cho đồng đội.

Sinh ra ở mảnh đất phía bờ Bắc sông Thạch Hãn, khi đất nước có chiến tranh, quê hương bị giặc giày xéo. Mới 15 tuổi, cô bé Hoàng Thị Mai đã xung phong làm liên lạc, tiếp tế cho bộ đội giải phóng quê hương. Vượt qua muôn vàn gian khổ, đôi chân trần của cô bé Mai không biết bao nhiêu lần băng rừng, lội suối, mặc cho gai cào, đá cứa để chuyển thông tin mật cho cán bộ.

Có một sự kiện xảy ra cho đến bây giờ bà vẫn chưa quên. Gia đình bà vốn là một cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Vào một ngày hè năm 1965, khi trong căn hầm bí mật đào dưới nền nhà bà đang diễn ra cuộc họp khẩn của cán bộ thì địch bất ngờ càn quét. Cha của bà chạy thẳng ra cánh đồng để đánh lạc hướng địch, cứu nguy cho đồng đội. Còn bà lao thẳng ra phía vườn, chạy về phía núi. "Khi thấy trước mặt chỉ toàn là rừng núi, tui mới dừng lại. Anh em mỗi người một ngả đường để tránh tổn thất". Lần đó, ai cũng nghĩ bà đã chết. Sáng hôm sau, bà lần tìm về được đến nhà, thấy sân rất đông bà con, linh tính mách bảo bà có chuyện chẳng lành. Bà cố sức lấy lại bình tĩnh, đi thẳng vào nhà, vừa tới sân, bà thấy mẹ đang khóc vật vã, bên cạnh là xác bố, đôi chân bà cứ khuỵu xuống. 15 tuổi, bà gánh lên vai nỗi đau lớn nhất đời người: Nỗi đau mất cha!

Năm 1967, bà được cấp trên cho đi học lớp y tá phục vụ chiến trường. Cuộc chiến Thành Cổ mùa hè đỏ lửa năm 1972, cô y tá Hoàng Thị Mai được cử vào trực chiến tại các trạm phẫu trong thành. "Suốt hơn một tháng trời, lúc ở trạm phẫu này, lúc chuyển đến trạm khác. Bốn bề lửa đạn bay rát mặt. Sau mỗi trận bom là bọn tui băng lên mặt đất cứu thương, băng bó rồi chuyển các đồng chí về tuyến sau. Có nhiều ngày dầm mình trong mưa, nghe tiếng đồng đội rên trong cơn sốt do thiếu thuốc men, tai tui ù đi" - Bà Mai nhớ lại. 17 tuổi! Cái tuổi người ta thường nói “ăn chưa no lo chưa tới”, bà đã trở thành một người lính kiên cường trên chiến trường ác liệt.

Kể từ ngày cha rồi đến hai người anh trai lần lượt hy sinh, lòng căm thù giặc trong bà dâng cao tột độ. Con trai ra trận gian khổ một thì con gái gian khổ gấp mười lần. Có nhiều ngày đói lả, cầm hơi bằng một mẩu sắn, bà vẫn không nao núng và nản chí, cùng đồng đội cáng thương binh vượt hàng chục cây số đường rừng về tuyến sau an toàn. Lao mình trước làn đạn địch cứu hàng trăm đồng đội trước vòng vây càn quét của địch... Trong những năm tháng ấy, bà không nhớ đôi bàn tay của mình đã băng bó cho bao nhiêu đồng đội. Nhưng trong câu chuyện dài của cuộc chiến tranh - nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết hết sức mong manh thì chỉ có những đồng đội từng được bà cứu sống vẫn không thể quên. Còn nhớ cách đây nửa năm về trước, khi bà vinh dự được Chủ tịch nước mời gặp mặt các cựu chiến binh Thành Cổ, có một người lính ngồi trên xe lăn trong giờ giải lao cứ nhìn bà chằm chặp. "O là o Mai làm y tá ở Thành Cổ?" - Người cựu chiến binh ấy rưng rưng hỏi. "Dạ phải!" - Bà Mai trả lời. Chợt người lính ấy ôm chầm lấy bà khóc: "Hơn 40 năm rồi tui vẫn mong có ngày gặp lại để cám ơn o. Nếu không có o băng bó kịp thời thì tui không được sống những ngày hòa bình, gặp lại vợ con". Hai người lính già siết chặt tay nhau. Cả hội trường hôm ấy ai cũng xúc động, rưng rưng nước mắt.

Đám cưới giản dị 

Giữa những ngày đạn bom ác liệt, khi mà nhìn đâu cũng chỉ thấy một màu xám của sự hủy diệt và chết chóc, một tình yêu giữa cô du kích Hoàng Thị Mai và anh bộ đội đặc công Hồ Lam Trà đã nảy nở. Tình yêu ấy họ đã dìu nhau đi qua chiến tranh như một phép màu. "Hồi đó, tui làm giao liên cõng gạo qua sông Hiếu tiếp lương thực cho bộ đội. Sông rộng, mùa mưa, nước dâng cao. Lúc nào cũng đợi trời tối mới vượt sông, mang gạo sang bên kia cho anh em. Có lần, nước lạnh cóng chân tay, suýt ngã giữa dòng thì ông ấy kịp thời đỡ giúp. Suốt nhiều tháng lặng lẽ như thế. Một lần, máy bay địch quần thảo trên bầu trời. Có lúc nó sà thấp xuống gần mặt đất khiến cây cối nghiêng ngả để truy lùng bộ đội. Tui lúc đó nằm nấp giữa bãi bồi sông Hiếu, vừa đưa súng lên chưa kịp bóp cò thì một bàn tay từ đằng sau ấn mạnh nòng súng xuống. Giọng nói đanh lại như ra lệnh: Bỏ súng xuống, đằng sau còn có anh em! Giây phút ấy, hai ánh mắt bất chợt nhìn nhau. Duyên nợ có lẽ bắt đầu từ đó!"- Bà Mai bồi hồi nhớ lại.

Chiến tranh ly lạc, tình yêu riêng tư cứ thế bị gác lại dành cho ngày hòa bình. Họ gần rồi xa nhau suốt mấy năm trời. Mãi cho đến sau ngày Đại thắng mùa Xuân 1975, ông với bà lại có thêm duyên nợ khi đơn vị hai người sáp nhập làm một. Ông báo cáo tổ chức xin cưới bà làm vợ, khiến bà hết sức bỡ ngỡ. Được sự động viên, vun vén của chỉ huy và đồng đội, bà không nỡ chối từ. Ngay sau đó, thủ trưởng đơn vị bố trí một chuyến xe đưa hai người về quê ông ở tận Quỳnh Lưu (Nghệ An) để ra mắt gia đình. Sau lần đó, một đám cưới giản dị được tổ chức với lời chúc phúc của đồng đội và bà con lối xóm. Ngày lên xe hoa, đơn vị cấp cho cô dâu một bộ quân phục mới thay váy cưới. Hạnh phúc gõ cửa hai người lính. Họ có với nhau hai mặt con. Sau nhiều năm cống hiến, hai ông bà về hưu sum vầy bên con cháu. Nhắc lại chuyện tình cũ, ông Trà cười vui vẻ: "Hồi nớ, tui không làm liều báo cáo tổ chức xin cưới bà thì làm sao có được hạnh phúc ngày hôm nay".

Chia tay tổ ấm của hai người lính bên góc đường Hùng Vương, TP Đông Hà, được chứng kiến cuộc sống hạnh phúc của họ bên con cháu, chúng tôi càng thấm thía hơn giá trị của tình yêu họ dành cho nhau, cho đất nước. Tình yêu ấy chính là động lực tinh thần giúp họ vượt qua gian khổ chiến tranh tàn khốc, vững chắc tay súng bảo vệ quê hương như một phép mầu cổ tích!

Trúc Hà - Vĩnh Yên