Thứ 7, 16/11/2019, 08:56 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Chính sách phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số đã đi vào cuộc sống

29/11/2016 - 23:09

Biên phòng - Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp, cũng như các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng đều khẳng định chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS), trong đó, chính sách về giáo dục-đào tạo là một chính sách quan trọng để nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các DTTS trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

a7mb_5a
Chính sách của Nhà nước đã tạo điều kiện cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số phát triển. Ảnh: CTV

Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đều có các quy định để đảm bảo quyền được giáo dục của đồng bào các DTTS. Quy định việc tạo điều kiện cho người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình bên cạnh việc sử dụng tiếng Việt. Tạo điều kiện cho học sinh DTTS được hưởng chính sách ưu đãi. Nhà nước thành lập các trường Phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, dự bị đại học cho con em DTTS. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006, quy định việc cử tuyển người DTTS vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và được hưởng học bổng, tiền hỗ trợ ăn, ở, đi lại, mua sách vở, đồ dùng học tập; Nghị định 82/2010/NĐ-TTg ngày 15-7-2010 quy định về dạy và học tiếng nói, chữ viết DTTS; Quyết định 2123/2010/QĐ-TTg ngày 22-11-2010 về đảm bảo quyền được giáo dục cho các DTTS rất ít người (có số dân dưới 10.000 người)... Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính cũng đã ban hành nhiều Thông tư liên tịch nhằm hỗ trợ về tài chính cho các học sinh tại các trường nội trú và trường dự bị đại học dân tộc. Theo đó, học sinh thuộc đối tượng này được miễn học phí, được hỗ trợ chi phí sinh hoạt, ăn ở, đi lại.

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào DTTS không chỉ thể hiện qua các Nghị định, chương trình, dự án, mà còn bằng chiến lược cơ bản lâu dài, như Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2013, nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ vùng đồng bào DTTS. Tiếp đó, ngày 14-3-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 402/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong tình hình mới. Một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm được đặt ra là công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức người DTTS.

Theo đó, Nhà nước tiếp tục triển khai chương trình đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng để củng cố, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng làm việc, trong đó có tiếng DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức người DTTS, bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức người DTTS nhưng còn hạn chế về khả năng giao tiếp bằng tiếng DTTS. Đặc biệt, Học viện Dân tộc vừa mới được thành lập theo Quyết định số 1562/QĐ-TTg ngày 8-8-2016 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập, tổ chức lại hai đơn vị là Viện Dân tộc và Trường Cán bộ dân tộc thuộc Ủy ban Dân tộc. Học viện Dân tộc sẽ là cơ sở nghiên cứu, giáo dục công lập về dân tộc và công tác dân tộc lớn nhất cả nước, nghiên cứu chiến lược, chính sách về dân tộc và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học, sau đại học, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ là người DTTS.

Nhờ có chính sách đúng đắn, công tác giáo dục đào tạo trong vùng đồng bào các DTTS những năm gần đây đã đạt được những kết quả rất tích cực. Theo kết quả điều tra mới nhất về tình hình kinh tế-xã hội 53 DTTS của Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc mới được công bố, tính đến ngày 1-8-2015: Số người DTTS biết tiếng dân tộc của mình là 11.396.365 người, đạt 95,8%; số lượng người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết là 7.465.062 người, đạt 79,8%; số lượng người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 7.416.732 người, đạt 79,2%; tỷ lệ người DTTS có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, đạt 6,2%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2% (trong đó: Cấp tiểu học 88,9 %; cấp trung học cơ sở 72,6 %; cấp trung học phổ thông 32,3 %); Tính đến ngày 1-7-2015, tổng số trường học của các xã vùng DTTS là 17.722 trường (trong đó: Mầm non: 5.420; Tiểu học: 5.968; Trung học cơ sở: 3.652; Trung học phổ thông: 597 và trường ghép hai bậc học tiểu học và trung học cơ sở: 293).

Thực tế cho thấy, các chính sách của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục, đào tạo vùng DTTS phát triển. Tuy nhiên, giáo dục, đào tạo vùng DTTS hiện nay vẫn còn không ít hạn chế, bất cập. Nhìn chung, mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các DTTS vẫn còn có khoảng cách đáng kể với người Kinh. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào DTTS còn hạn chế, đội ngũ cán bộ DTTS thiếu và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn. Theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc và Bộ Giáo dục và Đào tạo tại diễn đàn thường niên về phát triển DTTS năm 2015, vùng đồng bào DTTS so với mặt bằng chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn cao và có nguy cơ ngày càng rộng ra, thể hiện ở tỷ lệ biết chữ của trẻ em DTTS là 78% so với tỉ lệ biết chữ chung xấp xỉ 100%, tỷ lệ hộ nghèo DTTS trên 30%, hiện còn hơn 2.000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Mặc dù Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chính sách đối với giáo dục, đào tạo vùng DTTS, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể giải quyết được hết những khó khăn của địa phương. Công tác quản lý giáo dục dân tộc chưa theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục ở vùng DTTS, miền núi; công tác chỉ đạo còn thiếu linh hoạt và mang nặng thủ tục hành chính; công tác tham mưu ban hành một số chính sách cụ thể chưa phù hợp với tình hình thực tế. Hiện nay, mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học vùng DTTS đã được tăng cường đầu tư, cải thiện rất nhiều so với trước, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục.

Đặc biệt là ở các trường chuyên biệt vùng DTTS vẫn còn thiếu nhiều phòng học, thiếu nhà ở bán trú, bếp ăn, công trình vệ sinh và các điều kiện sinh hoạt, học tập khác. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, năng lực một bộ phận giáo viên còn hạn chế, đời sống còn khó khăn nên chưa yên tâm công tác.

Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác giáo dục, đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, nhằm đạt 3 mục tiêu là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Thời gian tới, để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo vùng DTTS, miền núi cần có sự phối hợp, tham gia của nhiều bộ, ban ngành có liên quan, của cấp ủy, chính quyền các địa phương.

Bên cạnh đó, cần rà soát chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS để đề xuất với Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS giai đoạn mới cho phù hợp. Đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí thực hiện tốt công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về giáo dục dân tộc. Trên cơ sở đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa phát triển giáo dục đào tạo vùng DTTS, miền núi.

Lê Xuân Trình