Thứ 3, 22/10/2019, 10:25 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882
Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số:

Cần chính sách tổng thể hay đặc thù?

07/07/2019 - 7:22

Biên phòng - Trong nhiều năm qua, hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi không ngừng được hoàn thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống chính sách dân tộc (CSDT) vẫn còn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng lại hệ thống CSDT. Vấn đề là xây dựng chính sách tổng thể hay chính sách đặc thù để có thể phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bào DTTS, miền núi đang là câu hỏi chưa có lời giải thỏa đáng.

spg7_12a
Đường giao thông thuận lợi là yếu tố quan trọng giúp vùng DTTS kết nối với thị trường và các trung tâm kinh tế lớn để phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Bích Nguyên

Đến nay, Ủy ban Dân tộc đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng DTTS, miền núi, vùng kinh tế - xã hội (KT-XH) đặc biệt khó khăn (ĐBKK) giai đoạn 2021-2025, định hướng 2030.

Theo đó, Đề án có nhiều chính sách tập trung vào 3 lĩnh vực lớn (phát triển kinh tế; văn hóa – xã hội; an ninh – quốc phòng), với nhiều điểm đổi mới so với cách xây dựng chính sách trước đây như: Phân định lại vùng DTTS và miền núi; đổi mới cách phân bổ vốn; tổng hợp toàn bộ chính sách lại thành 6 Nghị định của Chính phủ và thành lập Ban chỉ đạo Trung ương và địa phương. Hiện, Đề án đang được tham vấn các tổ chức phi Chính phủ, các đối tác phát triển để hoàn thiện

Vẫn cần chính sách đặc thù trong tổng thể

Ông Nguyễn Tiến Phong, chuyên gia Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) ví von hệ thống chính sách của Việt Nam giống như lưới phòng không, từ tầm thấp tới tầm cao, từ vũ khí thô sơ tới hiện đại: “Nói chung là rất nhiều chính sách, khi bắn đảm bảo trúng các đích, nhưng giai đoạn phòng không kiểu đó có lẽ qua rồi”.

Ông Phong chỉ ra nguyên nhân quan trọng khiến nhóm DTTS đang tụt lại phía sau và khoảng cách ngày càng nới rộng, là do tăng trưởng chung của cả nước không đến được vùng này. “Họ không được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Họ không tiếp cận được với các công việc phi nông nghiệp, do những rào cản khác nhau... Vì vậy, cần làm thế nào đó để người dân có thể tham gia và hưởng lợi từ quá trình tăng trưởng chung của cả nước” - Ông Phong nhấn mạnh.

Theo ông Phong, đề án hiện nay còn dàn trải, những chính sách hiện tại chỉ giúp vùng DTTS không bị tụt lại phía sau quá xa. Cần có những chính sách lớn như hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp hướng tới các vùng DTTS. Ông Phong nhấn mạnh, những chính sách lớn và kế hoạch tăng trưởng của đất nước chính là nguồn lực lớn cho vùng DTTS.

Ông Nguyễn Văn Anh, đại diện Tổ chức Care tại Việt Nam cho rằng, việc xây dựng Đề án tổng thể đầu tư phát triển KT-XH vùng DTTS, miền núi, vùng ĐBKK góp phần nhìn nhận vị thế và giá trị của các cộng đồng DTTS trong sự nghiệp phát triển của đất nước nói chung và phát triển bền vững cho các cộng đồng DTTS nói riêng.

Theo ông Anh, Đề án đã đề xuất khá nhiều giải pháp mang tính đổi mới như: Tổng kết, đánh giá ưu điểm, hạn chế, bất cập của tiêu chí phân định vùng DTTS, miền núi và vùng KT-XH ĐBKK theo trình độ phát triển, tiếp cận với cách phân định mới, đề xuất nhiều chính sách, cơ chế về tuyển dụng, đào tạo, trồng rừng, bảo vệ rừng, khởi nghiệp kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm... trong các vùng DTTS, miền núi, vùng KT-XH ĐBKK.

Tuy nhiên, ông Anh cũng cho rằng, nội dung đề án bị dàn trải và thiếu các nhóm can thiệp ưu tiên, cốt lõi. Vì vậy, bên cạnh tính tổng thể, Đề án cần xác định có cả chính sách đặc thù, điều này cần được thể hiện rõ hơn trong từng chương trình, chính sách. Bên cạnh đó, cũng cần tính tới những tác động cụ thể của biến đổi khí hậu, rủi ro thiên tai tới trình trạng KT-XH của các vùng và các nhóm DTTS để có chính sách phù hợp.

Những vấn đề trọng tâm cần giải quyết

Theo Tổ chức Ngân hàng thế giới, một lĩnh vực cần tập trung giải quyết trong việc xây dựng CSDT đó là vấn đề tiếp cận với công việc được trả lương của người lao động DTTS. Bởi, nguyên nhân cốt lõi của rất nhiều người nghèo Việt Nam là do không tiếp cận được việc làm được trả lương. Vì vậy, chính sách mới phải có chính sách hỗ trợ cho người DTTS không bị bỏ lại phía sau trong nền kinh tế, giúp cho họ sử dụng kỹ năng của mình trong lĩnh vực ngoài nông nghiệp. Cần có chính sách hỗ trợ họ dựa trên bối cảnh phát triển chung phù hợp với địa phương.

Dưới góc nhìn giới, bà Nông Thị Trường, Trung tâm Vì sự phát triển bền vững miền núi đã chỉ ra sự thiếu hụt chính sách riêng về phụ nữ DTTS, trong khi phụ nữ chiếm gần một nửa trong cộng đồng người DTTS. Theo bà, phải xác định phụ nữ không chỉ là đối tượng hưởng lợi, mà còn là chủ thể, vì vậy phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các chương trình, dự án, chính sách phát triển vùng DTTS và miền núi. “Trong đề án tổng thể phải có chính sách đặc thù về phụ nữ DTTS” - Bà Trường đề nghị.

0y6l_12b
Người DTTS mang nông sản ra chợ phiên bán. Ảnh: Bích Nguyên

Phân tích thêm về vị thế của phụ nữ trong việc xây dựng CSDT, bà  Elisa Fernandez, Trưởng Văn phòng Cơ quan Phụ nữ Liên hợp quốc tại Việt Nam (UN Women) cho biết: “Hiện, vẫn còn nhiều khoảng trống về giới. Còn nhiều dữ liệu chưa được thu thập để làm cơ sở xây dựng chính sách hoặc đưa ra các biện pháp can thiệp”. Theo bà, Đề án tổng thể đầu tư phát triển KT-XH vùng DTTS cần phải giải quyết những khoảng trống về giới và những nhu cầu của phụ nữ theo toàn bộ chu kỳ của cuộc sống, từ khi còn là trẻ em, phụ nữ trưởng thành đến người già.

Trong đó, phải giải quyết việc tiếp cận cơ hội việc làm, giáo dục hướng nghiệp không chỉ ở những lĩnh vực truyền thống mà cả những lĩnh vực mới để họ tham gia hòa nhập với xã hội chung. Một vấn đề nữa là phải có cơ chế, chính sách nâng cao tiếng nói và sự tham gia của phụ nữ người DTTS trong xây dựng các chính sách, phân bổ ngân sách.

Có thể khẳng định, một hệ thống CSDT chỉ có thể đạt hiệu quả tốt nhất nếu phát huy nội lực của người dân bản địa. Vì vậy, việc xây dựng chính sách cần chú ý không tạo cho người dân cảm giác là được ban phát mà phải làm cho họ nhận thức họ là chủ thể, phải phát huy được ý chí tự lực, tự cường của mình để vươn lên. Để làm điều này, phải giảm dần hình thức hỗ trợ cấp phát chuyển sang cho vay vốn. Bên cạnh đó, nên có một nhóm hỗ trợ những người trẻ khi họ quay trở lại quê hương khởi nghiệp, làm việc sau khi đã được đào tạo. Bởi chỉ cần thúc đẩy một vài nhân tố phát triển thì những người ở phía dưới sẽ phát triển theo.

Xuân Hương