Chủ nhật, 24/09/2017, 01:02 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Cách nhìn mới về tảo hôn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

12/07/2017 - 8:34

Biên phòng - Tảo hôn đã và đang tạo thành một vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) . Mới đây, tại Hội nghị quốc gia về tảo hôn do Ủy ban Dân tộc (UBDT) tổ chức, các chuyên gia đã nêu ra các vấn đề và nhận diện một số rào cản chính làm cản trở việc phòng ngừa và chấm dứt nạn tảo hôn, kết hôn trẻ em ở vùng DTTS.

ehzj_8
 Tảo hôn đang là một vòng tròn luẩn quẩn của đói, nghèo ở vùng DTTS. Ảnh: Đức Vương

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Luật Trẻ em năm 2016 đã nghiêm cấm tảo hôn và các hoạt động liên quan tới việc tổ chức và hỗ trợ tảo hôn. Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn giai đoạn 2015-2025. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, đặc biệt là những địa bàn có nhiều đồng bào DTTS sinh sống, trẻ em gái thường kết hôn trước tuổi 18.

Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Tư, Vụ trưởng Vụ DTTS, UBDT cho biết, tảo hôn xảy ra ở tất cả các dân tộc, nhưng vùng đồng bào DTTS chiếm tỷ lệ cao và tồn tại rất dai dẳng. Tỷ lệ tảo hôn chung trong các DTTS là 26,6%, cao gấp khoảng 10 lần so với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%).

Theo thống kê, có tới 40/53 DTTS có tỷ lệ tảo hôn trên 20%; trong đó, 10 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 20 - 30%; 11 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 30 - 40%; 13 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 40 - 50%, 6 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 50 - 60%. Những DTTS có tỷ lệ tảo hôn cao thường sinh sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa tỷ lệ nghèo còn cao.

Lý giải thực trạng dưới một hướng tiếp cận mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Phương, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISSE) chia sẻ, qua chương trình nghiên cứu vấn đề tảo hôn từ 4 cộng đồng người DTTS ở Yên Bái, Điện Biên, Quảng Trị và Hòa Bình, các chuyên gia phát hiện một thực tế đa chiều và phức tạp dẫn đến tình trạng trên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính trẻ em ở các địa bàn nghiên cứu là chủ thể quyết định việc kết hôn sớm của mình. Trong các trường hợp này, đa phần bố mẹ thuận theo ý kiến của con; một số trường hợp, chính bố mẹ lại chịu sức ép của con trong việc cưới hỏi. Thêm vào đó, áp lực từ bạn bè cùng lứa, việc chứng kiến hầu hết bạn gái xung quanh kết hôn, tạo ra sức ép lấy chồng cho các em gái ở vùng DTTS. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Phương cũng chia sẻ, đây là kết quả của xu hướng chuyển dịch giáo dục theo hướng tập trung tại trường tuyến xã, huyện và giảm dần các điểm trường tại thôn, xã của các địa phương khiến cho trẻ em phải đi học bán trú, nội trú (cuối Tiểu học, đầu Trung học cơ sở) cách xa nơi ở của gia đình, từ đó dẫn đến sự thiếu hụt tình cảm, sự quan tâm của cha mẹ. Điều này phần nào đã tạo ra hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển các mối quan hệ tình cảm và nảy sinh yêu đương sớm ở tuổi dậy thì.

Thêm vào đó, trong bối cảnh sinh kế khó khăn, thiếu cơ hội việc làm, từ góc nhìn của người DTTS, kết hôn sớm là một “chiến lược an toàn” cho gia đình và trẻ em. Bà Phương phân tích: “Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các cặp kết hôn trẻ em đều bỏ học khá sớm, ngay từ Trung học cơ sở, đặc biệt là với các em gái. Các bậc phụ huynh người DTTS không sẵn sàng đầu tư vào giáo dục cho con em mình bởi bằng cấp không đảm bảo có được việc làm, thu nhập ổn định sau khi ra trường, trong khi chi phí giáo dục ở bậc cao hơn Trung học cơ sở vẫn là thách thức với người DTTS.

Chính vì vậy, kết hôn trở thành sự lựa chọn tốt nhất giúp thanh, thiếu niên DTTS được chia đất đai, của cải để bắt đầu tham gia lao động sản xuất, lo cho gia đình. Đặc biệt, kết hôn trẻ em vùng DTTS cũng cho thấy phần nào sự nghịch lý của quá trình hiện đại hóa, sự phát triển của công nghệ, điện thoại, mạng xã hội và hệ thống hạ tầng vùng DTTS đã góp phần không nhỏ vào thực trạng hiện nay. Khi trẻ em vùng DTTS được tiếp cận nhiều thông tin hơn, một số thông tin không phù hợp cũng được tiếp nhận một cách bị động; khoảng cách địa lý dường như cũng bị thu hẹp...”.

Được biết, tháng 4-2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trong vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2015-2025. UBDT cũng đã xây dựng mô hình thí điểm tính tới yếu tố tảo hôn cao ở 15 tỉnh, thành phố; cả nước cũng có gần 40 tỉnh, thành lập Ban chỉ đạo thực hiện đề án về giảm thiểu nạn tảo hôn. Tuy nhiên, việc triển khai đề án đang gặp nhiều khó khăn do nguồn kinh phí quá hạn hẹp. Về vấn đề này, Vụ trưởng Vụ DTTS, UBDT Nguyễn Thị Tư cho rằng, nếu không được đầu tư thích đáng, các mục tiêu của đề án rất khó có thể thực hiện được, việc tảo hôn, thất học, nghèo đói sẽ mãi là một vòng luẩn quẩn đối với vùng đồng bào DTTS.

Bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện Quỹ Phát triển phụ nữ của Liên hợp quốc cho rằng, Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể hơn, không chỉ dừng lại ở quy định luật pháp. Theo đó, chìa khóa để phá vỡ chu trình tảo hôn và kết hôn trẻ em là tăng quyền và đầu tư cho phụ nữ, trẻ em gái. Các em phải được tiếp cận những dịch vụ có chất lượng về giáo dục - đào tạo, tư vấn về pháp luật, y tế, kể cả tư vấn sức khỏe sinh sản và các dịch vụ xã hội khác.

Bà Tư cho biết thêm, theo thống kê, số phụ nữ và trẻ em gái trong 53 DTTS chỉ khoảng 70% biết nói và viết tiếng phổ thông, số còn lại hầu như không thể nghe được những phương tiện thông tin truyền thông. Đây cũng là “điểm nghẽn” lớn trong việc triển khai đề án của Chính phủ.

Ở khía cạnh khác, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Phương phân tích, thực tế chúng ta đang tuyên truyền, truyền thông theo hướng quy kết do “phong tục tập quán lạc hậu” là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nay. Tuy nhiên, việc tuyên truyền ngăn chặn tảo hôn như một thứ “tệ nạn ở địa phương” dẫn đến việc đồng bào phải đối phó, giấu giếm. Thêm vào đó, là tình trạng phần lớn người dân hiểu được tảo hôn là một hành vi phạm pháp nhưng vẫn chấp nhận hình phạt để tiếp tục kết hôn hoặc lờ đi không quan tâm, vì vậy, gây nên tình trạng tiến thoái lưỡng nan cho chính quyền địa phương trong vấn đề này.

Bình Minh