Thứ 5, 23/05/2019, 23:50 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Sửa đổi Luật Thủy sản là hết sức cần thiết

06/06/2017 - 11:24

Biên phòng - Sáng 6-6, Quốc hội (QH) làm việc tại hội trường nghe Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường, trình bày Tờ trình dự án Luật Thủy sản (sửa đổi); Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH Phan Xuân Dũng báo cáo thẩm tra dự án Luật Thủy sản (sửa đổi).

nguyen-xuan-cuong
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường. Ảnh: Văn Bình

Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, Luật Thủy sản được QH thông qua và có hiệu lực năm 2004, về cơ bản đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực thủy sản. Nhờ đó, ngành thủy sản đã dần chuyển dịch từ nghề cá nhân dân sang nghề cá thương mại và đạt doanh thu 7,16 tỷ USD năm 2016.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, sau 13 năm triển khai thực hiện Luật Thủy sản năm 2003 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như một số quy định chưa theo kịp với sự phát triển nhanh của ngành thủy sản Việt Nam; công tác cải cách hành chính của Chính phủ, tăng cường xã hội hóa các dịch vụ công, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp mạnh cho địa phương... chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Quy định về truy xuất nguồn gốc thủy sản, chống đánh bắt bất hợp pháp, năng lực, kinh nghiệm quản lý và đầu tư trang thiết bị phục vụ cho kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thủy sản... còn hạn chế.

“Để khắc phục các bất cập nêu trên, đồng thời, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển thủy sản nói riêng; đặc biệt là Nghị quyết 09-NQ/TW năm 2007 về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, việc tiến hành sửa đổi Luật Thủy sản năm 2003 là hết sức cần thiết”. – Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

Qua thẩm tra, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Luật Thủy sản (sửa đổi). Tuy nhiên, Ban soạn thảo cần rà soát, chỉnh lý các nội dung có liên quan của dự thảo Luật để phù hợp với đường lối, chính sách phát triển ngành thủy sản và đảm bảo quốc phòng - an ninh. Đặc biệt, cần chú ý về quy định giao, cho thuê, thu hồi đất, mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản (Mục 5, Chương III).

Về thẩm quyền giao, cho thuê mặt nước biển (Điều 44, Mục 5, Chương III), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc việc giao UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giao, cho thuê mặt nước biển, vì khó khả thi đối với các dự án có quy mô đầu tư trên diện tích lớn, ảnh hưởng đến nhiều tỉnh.

Mặt khác, đối với mô hình nuôi khơi (nuôi xa bờ), theo Nghị định 51/2014/NĐ-CP về quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển, UBND cấp tỉnh chỉ có thẩm quyền giao, cho thuê từ vùng biển 3 hải lý trở vào. Bên cạnh đó, do đặc thù của mô hình này là xa vùng bờ nên khó kiểm soát và ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, cần có sự đánh giá tổng hợp của các cơ quan chuyên ngành Trung ương.

Theo ông Phan Xuân Dũng, Ban soạn thảo quy định thẩm quyền giao, cho thuê đối với những trường hợp này cho Chính phủ hoặc cấp bộ; quy định chi tiết trách nhiệm của Chính phủ, các bộ liên quan trước khi giao, cho thuê mặt nước biển.

Cũng theo ông Phan Xuân Dũng, việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, việc quy định cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản là phương thức mới, do vậy, cần cân nhắc kỹ lưỡng một số vấn đề về quốc phòng - an ninh để bảo đảm hài hòa lợi ích phát triển kinh tế và an ninh quốc gia.

“Đề nghị Ban soạn thảo xem xét, quy định chặt chẽ hơn đối với trường hợp tổ chức, cá nhân Việt Nam chuyển nhượng, cho thuê lại với tổ chức, cá nhân nước ngoài để tránh tiềm ẩn các nguy cơ ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh” – ông Phan Xuân Dũng nhấn mạnh.

a2ei_phan-xuan-dung
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH Phan Xuân Dũng. Ảnh: Văn Bình

Ngoài ra, Điều 9 quy định về Kiểm ngư cấp tỉnh tại 28 tỉnh, thành phố ven biển nhằm thống nhất công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, huy động lực lượng trong công tác tham gia bảo vệ chủ quyền, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ ngư dân cần phải được thực hiện đồng bộ, kịp thời và hiệu quả. Vấn đề này, theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, hiện vẫn có 3 luồng ý kiến.

Luồng ý kiến thứ nhất, đề nghị tiếp tục duy trì lực lượng Kiểm ngư Trung ương (có các chi cục tại các vùng - gọi tắt là Kiểm ngư vùng) như hiện nay, không thành lập thêm hệ thống Kiểm ngư cấp tỉnh; nhưng có chính sách tăng cường nguồn lực, chế độ cho thanh tra chuyên ngành thủy sản, luật hóa các quy định về tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư trong dự thảo Luật.

Luồng ý kiến thứ hai đề nghị, bên cạnh lực lượng Kiểm ngư Trung ương, cần thành lập thêm hệ thống Kiểm ngư tại 28 tỉnh ven biển như dự thảo Luật trên cơ sở chuyển từ lực lượng thanh tra chuyên ngành thủy sản tại các chi cục thủy sản; lực lượng thanh tra chuyên ngành địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ do đang hoạt động theo Luật Thanh tra, không có các công cụ hỗ trợ đi kèm, chưa có các chế tài cưỡng chế như các kiểm ngư viên, không được hưởng chính sách, chế độ khi thực hiện thanh tra trên biển như kiểm ngư viên.

Luồng ý kiến thứ ba đề nghị, bên cạnh lực lượng Kiểm ngư Trung ương, tùy vào tính chất đặc thù của từng địa phương mà thành lập thêm Kiểm ngư cấp tỉnh trên cơ sở cơ cấu lại lực lượng thanh tra chuyên ngành về thủy sản tại địa phương. Chính phủ sẽ căn cứ tính chất, yêu cầu của từng địa phương để quy định thành lập lực lượng kiểm ngư tại một số tỉnh cho phù hợp, như tỉnh có bờ biển dài, có địa hình phức tạp, có lượng tàu thuyền hoạt động lớn. Việc chuyển đổi từ lực lượng thanh tra chuyên ngành về thủy sản sang kiểm ngư tại một số tỉnh có vùng biển đặc thù cơ bản sẽ không làm phát sinh thêm biên chế.

Viết Hà

Bình luận

Tin liên quan