Thứ 6, 24/05/2019, 20:42 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Binh pháp bàn về thủy chiến

21/09/2017 - 20:07

Biên phòng - Binh pháp xưa không còn là sách giáo khoa huấn luyện quân đánh giặc, vì khoa học quân sự ngày nay đã tiến như vũ bão. Nhưng đó vẫn là di sản vô giá về tri thức đánh giặc của cha ông ta cách đây nhiều thế kỷ.

601s_20a
Cọc gỗ trên sông Bạch Đằng. Ảnh: Trịnh Sinh

Nước ta hiện còn lưu lại hai quyển binh pháp nổi tiếng, đó là “Binh thư yếu lược” do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn viết và quyển “Hổ trướng khu cơ” (Chuyện cơ mật bàn sau bức trướng; Hổ trướng tức là bức màn trướng bằng da hổ, thường được treo nơi tướng sĩ họp bàn) do Đào Duy Từ soạn thảo để huấn luyện quân sĩ của chúa Nguyễn trong 8 năm ông làm quan với chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1627-1634).

Sách “Hổ trướng khu cơ” mang tính thực hành là chủ yếu. Qua sách này, chúng ta có thể biết được trình độ quân sự đương thời của đàng trong nơi chúa Nguyễn cai trị, cũng như gián tiếp biết được trình độ quân sự của đàng ngoài nơi vua Lê, chúa Trịnh đang trị vì.

Xung quanh vấn đề sử dụng nước trong trận mạc cũng đã được “Hổ trướng khu cơ” đề cập đến ở nhiều mục của cuốn binh pháp này, tập trung nhất trong chương “Thiên thủy chiến”.

Có những cách đánh trên sông, biển như: “Đóng cọc lòng sông, gài nỏ góc biển. Lại vững chắc hơn, đặt thủy lôi đáy nước, đặt tên ngầm trong sông”. Khi chiến thuyền ta vào giang phận của giặc, gặp dây xích sắt chắn sông, thì “nên sai thợ sắt đúc một cái thiết đề, miệng rộng 2 thước, cán gỗ dài 3 thước để trong chiến hạm. Khi gặp xích sắt thì lấy diêm tiêu, lưu hoàng, mao sa cùng với than gỗ phóng vào trong thiết đề, thổi lửa cho đỏ rực để đốt xích sắt. Khi sắt đỏ ra thì lấy búa lớn mà chặt”.

Phép đặt tên ngầm dưới nước: Dùng cần tre cứng khoảng 100 cái, mỗi cần dùng một ống tre dài 1 thước 5 tấc có lỗ trên đầu để cắm tên thuốc độc. Đặt tên ngầm ở hai bên cửa sông nơi thuyền giặc hay đi qua. Các cần tre đều giương cong lên như chiếc cung lớn. Cần tre lại nối với những ống phao nhỏ. Khi thuyền giặc đến, mái chèo động vào phao, các cần tre đều tự động bật lên làm cho mũi tên ở các ống bắn lên các thuyền.

Phép đóng cọc lòng sông: Thực ra, việc đóng cọc ở dọc sông đã là cách đánh truyền thống của cha ông và diệt nhiều thuyền chiến giặc ở trên sông Bạch Đằng với chiến công của Ngô Quyền diệt quân Nam Hán và Trần Hưng Đạo diệt quân Nguyên Mông. Đào Duy Từ đã đúc kết lại cách đánh này và áp dụng trong cuộc chiến “Trịnh Nguyễn phân tranh”, bắt được tướng của chúa Trịnh là Gia Quận Công. Đào Duy Từ tổng kết, nên sai ba quân chuẩn bị cột gỗ độ 200 cái, đem đến cửa sông cắm xuống nước, xa gần so le, dài ngắn không đều, hình như răng chó cài nhau, để ngầm dưới mặt nước. Thuyền giặc tiến đến thì bị cọc gỗ ngăn trở, dù thuyền nhẹ, buồm căng gió thổi mạnh, ra sức mà chèo, cũng không đi được một bước.

Khi quân sĩ qua sông mà không có thuyền, cầu phao, lại cần phải giữ bí mật, thì có phép dùng chum tre để sang sông. Cho người đan những chum bụng to, miệng nhỏ, lấy vải gai tẩm dầu và giấy dầu sơn bồi ngoài chum. Đút nút miệng chum lại, dùng ống tre buộc vào hai bên chum. Hai nách cắp mà bơi. Đấy là hình ảnh của những chiếc chum có công dụng như phao bơi qua sông. Có lẽ, cách qua sông này bí mật, an toàn và gần như là cách đánh lợi hại, thủy tổ của các “đặc công nước” thời nay.

Phép đặt thủy lôi dưới nước: Sai thợ mộc làm hai cái hòm gỗ, mỗi cái cao 5 thước, dài 6 thước. Bên trong hòm gỗ chia làm 5 tầng. Tầng trên dùng dùi đồng nhỏ và mảnh tre để làm máy phát động. Trên đó dùng dao sắt, dưới đó để đá lửa cùng thuốc súng, ngòi và các thứ để đốt. Tầng thứ hai để 12 súng gang hình như ống tre. Lòng súng nhồi đầy thuốc, xuyên lỗ trên súng để đặt ngòi.

Các tầng khác cũng nhồi đầy thuốc súng. Lấy giấy bồi và bông để phòng hơi nước. Sau đó dùng dây buộc và đá chặn hòm gỗ dưới đáy sông, lại có phao nửa nổi nửa chìm. Khi thuyền giặc đến, mái chèo động vào dây nhỏ chăng ngang sông, cả hệ thống chuyển động, hòm thủy lôi nổi lên mặt nước. Máy đá lửa khởi động làm ngòi cháy hết các tầng. Lửa bùng lên và sắt đá tung ra. Hiệu quả diệt địch của các hòm thủy lôi này rất lớn. Đào Duy Từ còn cảm khái ca ngợi cái vũ khí thủy lôi sáng tạo này:

“Muôn khoảnh thần long ngầm đáy nước

Mấy đoàn quân giặc chết trong sông”.

Chúng ta còn biết được công thức “thuốc nổ và linh kiện” của quả thủy lôi cách đây 400 năm gồm: Diêm tiêu, lưu hoàng, than dâu, than đen, thạch châu sa, thạch tín, dây đồng. Nếu như địa lôi thì nhiều nước đương thời đã sử dụng, nhưng thủy lôi mới chỉ thấy ở trong tác phẩm của Đào Duy Từ mà thôi. Có lẽ đây là sáng tạo độc đáo của quân sự Việt Nam: Các hòm thủy lôi.

Một loại vũ khí nữa, khá lạ, đó là phép làm voi vôi nổi sóng. Voi được đan bằng trúc, vòi ngẩng lên. Lấy vải tẩm nhựa trám cùng giấy dầu sơn khô bồi vào thân voi 7, 8 lần. Sau đó, lấy 1.000 cân vôi nghiền thành bột nạp vào bụng voi. Vòi và cổ voi nút lại. Chân voi buộc đá tảng. Lại buộc 30-50 voi vào với nhau. Đặt voi trên bè. Khi thuyền giặc đến, đủn những con voi vôi xuống nước, tháo bỏ nút ở vòi voi. Khi nước tràn vào bụng voi, tạo ra sóng dữ và khí độc làm quân giặc hoảng hốt, quân ta thừa thế xông lên diệt giặc.

Bên cạnh các phép dùng vũ khí để thủy chiến, trong “Hổ trướng khu cơ” còn dạy binh sĩ cách chế biến nước biển thành nước ngọt phòng khi chiến đấu trên biển dài ngày. Trước tiên, sai thợ mộc đóng một cái thùng to, cao độ 5 thước. Đục lỗ nhỏ ở đáy thùng, lấy vải lụa trắng trải ở đáy thùng để lọc nước. Xong ra bãi cát ven biển đào một hốc to, thấy nước trong chảy ra, uống thấy ngọt thì lấy cát đổ vào thùng.

Đến khi ra biển, sai quân lính múc nước biển dội vào thùng gỗ. Nước biển được lọc qua cát dần dần, tự mất vị mặn mà thành vị ngọt không khác gì nước giếng. Phép tìm nước ngọt bằng cách đào hố cạnh bờ biển này khá giống kinh nghiệm của đồng bào Chăm. Có thể vùng chúa Nguyễn cai trị bấy giờ còn khá nhiều người Chăm bản địa, dày dạn kinh nghiệm đi biển và thạo tìm nước ngọt. Tuy nhiên, chuyện cho cát vào thùng để lọc nước biển cũng còn phải bàn, nếu như soi vào lăng kính khoa học, vì cát là chất vô cơ, không thể lọc nước mặn qua cát mà thành nước ngọt được?

wmb3_20b
Ô thuyền được sử dụng trong thủy chiến thời Nguyễn. Hình khắc trên Cửu Đỉnh. Ảnh: Trịnh Sinh

Với vũ khí hết sức thô sơ, nhưng Đào Duy Từ đã biết lợi dụng sông nước để tạo ra cách đánh địch lợi hại. Ông chính là nhà lý luận quân sự tài giỏi và cũng là vị tổng tham mưu trong các trận mạc. Ông được chúa Nguyễn Phúc Nguyên đánh giá rất cao sánh với Tử Phòng và Khổng Minh là những mưu sĩ nổi tiếng.

Đào Duy Từ là người con xứ Thanh. Quê ông ở làng Hoa Trai, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Ông vào Nam từ thuở hai bàn tay trắng phải đi làm kẻ chăn trâu để chờ thời, được người dân miền Trung cưu mang và tiến cử ông với chúa Nguyễn. Vì thế mà sau này, ông được người đời cảm phục cho rằng từ kẻ ở dưới đầu trâu mà nhắc thẳng lên làm tể tướng. Bởi ông có thực tài và chúa Nguyễn cũng có cặp mắt xanh biết chọn người tài, không phải từ chốn con cháu các vị công thần mà từ chỗ lưu dân, chăn trâu ở thôn Ngọc Sơn, xã Hoài Thanh Tây, huyện Hoài Nhơn, Bình Định, nơi mà Đào Duy Từ coi là quê hương thứ hai của mình.

Cuộc gặp giữa hai người đồng hương xứ Thanh là chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Đào Duy Từ quả là có một không hai giữa một người tài và một minh chủ biết sử dụng người tài. Nếu không có cái duyên hội ngộ này thì chắc chắn Đào Duy Từ không được trọng dụng, không thể mang kiến thức uyên bác của mình giúp đời trong tác phẩm “Hổ trướng khu cơ”.

PGS.TS Trịnh Sinh