Thứ 7, 23/02/2019, 15:57 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Bảo tồn văn hóa và những thách thức không hề nhỏ

04/10/2016 - 15:14

Biên phòng - Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc, nói một cách cụ thể là khôi phục, giữ gìn cái hay, cái đẹp có tính cách riêng biệt, độc đáo của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, làm cho mọi người đều cảm nhận được cái hay, nét đẹp đó, có ý thức giữ gìn, trân trọng, nâng niu và tự hào về dân tộc mình, quê hương đất nước mình. Làm thế nào để bảo tồn được văn hóa dân tộc khi xu thế phát triển du lịch ngày càng lớn là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi những người có trách nhiệm tổ chức, quản lý và khai thác du lịch phải có tầm nhìn xa nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa cho muôn đời sau.

p2ah_21
Minh họa: Minh Khuê

Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến văn hóa vật thể và phi vật thể. Có thể hiểu khái lược văn hóa vật thể là những giá trị vật chất như những công trình kiến trúc, những sáng tạo nghệ thuật như: Lăng tẩm, đình, chùa, đền, miếu, tháp, phù điêu, đồ dùng trong lao động và sinh hoạt... Văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần với những hình thái cơ bản như: Văn hóa ngôn từ, nghi lễ, lễ hội... Nghệ thuật trình diễn như ca múa, nhạc, sân khấu... Tri thức dân gian như ẩm thực, y tế dân gian, võ thuật cổ truyền, phong tục, tập quán, những hiểu biết về tự nhiên... Nghệ thuật tạo hình và kiến trúc. Văn hóa phi vật thể chủ yếu là những thành quả sáng tạo mang tính dân gian, có được do sự kết tinh trong quá trình phát triển lịch sử của nhân dân các dân tộc.

Thực tế cho thấy, văn hóa vật thể và phi vật thể luôn có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Ví dụ như đình, chùa, đền... luôn gắn liền với các lễ hội mang màu sắc văn hóa tâm linh; hay một điệu quan họ, điệu hát xoan, ca trù, "khắp" Thái, ca bài chòi... lại được "vật chất hóa" khi được các nghệ nhân thể hiện.

Thực tế hiện nay, do việc phát triển du lịch một cách ồ ạt, đôi khi mang tính tự phát, thiếu một kế hoạch mang tính chiến lược dài hơi, cùng với việc cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ, công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch còn mang tính thời vụ, thiếu chuyên nghiệp, đội ngũ hướng dẫn viên còn thiếu và yếu, đặc biệt về chất... dẫn đến nhiều giá trị văn hóa quý báu bị sai lạc, bóp méo, thậm chí mai một dần.

Trong một bài viết, tác giả Trương Hồng Tú đã cảnh báo về "nguy cơ một "cái chết" văn hóa" và chỉ rõ trách nhiệm đó "thuộc về những người quản lý và khai thác du lịch". Trong bài viết này, tác giả Trương Hồng Tú khẳng định: "Khi những vẻ đẹp văn hóa độc đáo, bản sắc của một làng, một bản, một cộng đồng nhỏ hay một vùng bị chết sẽ dẫn đến "cái chết" của một nền văn hóa đa sắc tộc". Điều đó có thể giúp ta hiểu rõ bức tranh du lịch Việt Nam đang bị mờ nhạt do phát triển một cách ồ ạt, thiếu tính bền vững.

Chỉ điểm qua một số khu du lịch ở Tây Bắc, ta sẽ thấy các giá trị văn hóa dân tộc đang bị mai một dần do sự phát triển du lịch. Đi suốt một dải, từ Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình... chỉ còn lác đác đây đó bóng hoa ban trắng mà ngày xưa là rừng nối rừng, hoa trải thảm trên ngàn, hương thơm vấn vít từng áng mây, ngọn gió và đã trở thành biểu tượng của Tây Bắc. Những khu du lịch đua nhau mọc lên như nấm, nhưng lại thiếu đi nét đặc trưng của dân tộc, vùng miền. Đứng trước một ngôi nhà sàn văn hóa, dẫu xây cất bằng vật liệu gì, du khách cũng không thể phân biệt được đó là nhà sàn của dân tộc nào, của người Tày, người Mường, người Thái hay của người Khơ Mú...

Trong các buổi biểu diễn hoặc giao lưu văn nghệ, các vũ công người Mường lại xòe và hát Thái... Ngay các điệu xòe Thái vốn tinh tế và uyển chuyển trong điệu khèn điệu "pí" (sáo) hay đàn tính từng say lòng bao du khách trong và ngoài nước, nay cũng bốc lửa hơn, bởi những động tác dậm chân và lắc hông trong tiếng nhạc xập xình. Còn các lễ hội, dẫu bỏ ra bao nhiêu tiền, do cấp nào tổ chức thì cũng nặng tính sân khấu biểu diễn, xa rời vốn cổ như: Lễ hội "Xên bản xên mường" - cúng bản cúng mường của người Thái; "Sàn hoa hạn khuống" - một hình thức diễn xướng sân khấu sơ khai, nơi trai gái Thái xưa hát đối đáp giao duyên; "Chợ tình" và "Tết độc lập"... Đấy là những cái chung, chưa nói đi vào những nét cụ thể của văn hóa dân tộc thì không sao kể hết cái đã bị hòa tan, bị lệch lạc, thậm chí mất đi nét đẹp là tinh hoa văn hóa tự bao đời.

Các phong tục tập quán và lễ hội, do sự hiểu biết và năng lực còn hạn chế của cán bộ chuyên trách, lại chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nghệ nhân và các nhà sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian nên có lúc tổ chức còn nửa cổ nửa kim. Ví dụ "Hội cầu mưa của người Thái Tây Bắc" lại có hình ảnh "ông Trời" cầm cành cây dúng vào một bình nước vẩy tượng trưng cho cơn mưa?(!) Một chợ tình đã thương mại hóa làm ảnh hưởng không nhỏ tới nét đẹp cổ truyền vốn có... Các nghệ nhân thì ngày một già yếu và mất dần. Trong khi họ là người nắm hầu hết vốn liếng tài sản tinh thần của cộng đồng về những lĩnh vực nhất định. Chính họ chứ không phải ai khác là người lưu giữ và truyền cho thế hệ sau, chẳng thế mà tổ chức UNESCO đề nghị tặng họ danh hiệu "Báu vật nhân văn sống". Hiện nay, chúng ta đã làm gì, tạo những điều kiện như thế nào để cùng các nghệ nhân gấp rút sưu tầm, truyền dạy giá trị văn hóa ấy cho đồng bào, đồng thời tôn vinh chăm sóc "báu vật nhân văn sống" của mỗi tộc người?

Các địa phương khác trong cả nước, mức độ có thể khác nhau nhưng đều giống nhau ở việc tổ chức, quản lý và khai thác du lịch theo kiểu ăn xổi ở thì, chạy theo lợi nhuận, gây ra những tác hại không nhỏ cả về môi sinh, môi trường cùng việc "chết mòn" các giá trị văn hóa mà nhiều tác giả có tâm đã thể hiện quan điểm cùng nỗi xót xa trong rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu.

Ở các nước có ngành du lịch phát triển, cũng từng phải trả giá không nhỏ cho những điều tưởng như nhỏ nhặt kia. Song, họ nhanh chóng biết rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời, bởi vậy tự thân các sản phẩm du lịch của họ, trong đó có văn hóa dân tộc, tỏa ra một sức hút đến say lòng du khách trong và ngoài nước. Cứ nhìn sang các nước láng giềng như Thái Lan... khởi điểm của họ cũng như ta, chưa nói có những yếu tố tự nhiên, nhiều cái thua ta, vậy mà bao giờ chúng ta mới theo kịp họ? Mãi đến tận bây giờ, chúng ta vẫn dậm chân ở dạng "tiềm năng".

Việc đầu tư khai thác du lịch của chúng ta bây giờ giống như việc "hớt váng mỡ" trong thùng nước lèo. Đấy cũng là những nguyên nhân cơ bản sau những "Tuần văn hóa du lịch" với những tên gọi mỹ miều được tổ chức rầm rộ và tốn rất nhiều tiền của, thì những địa phương đó, lượng du khách lại rơi vào cảnh èo uột, ngày một ít đi. Các di tích và thắng cảnh đang dần xuống cấp và mất dần. Nhiều ngọn núi đá đẹp đã bị phá để nung vôi... ảnh hưởng của ý thức chưa cao và tác động của nền kinh tế thị trường thật to lớn và khốc liệt.

Hằng năm, ngành du lịch Việt Nam báo cáo số lượng du khách tăng lên bao nhiêu phần trăm, nhưng lại chưa hề có một cuộc khảo sát: Du lịch đã góp phần "bóp chết" hồn cốt bao nhiêu giá trị văn hóa, chỉ còn lại cái vỏ hào nhoáng(?).

Lâu nay hoạt động du lịch đã và đang đem lại một nguồn lợi không nhỏ, được coi là ngành "công nghiệp không khói", có tác dụng như một đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế, văn hóa... Song muốn lâu bền, phải chăng, một trong những điều cần thiết là phải giữ được văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, thu hút được du khách ngày một đông hơn. Làm thế nào để văn hóa dân tộc mãi giữ được cái hồn cốt riêng ấy? Đó là câu hỏi lớn dành cho các cấp, các ngành chức năng trong việc tổ chức, quản lý và khai thác du lịch. Và một trong những yếu tố then chốt để thúc dẩy du lịch là: Tăng cường bảo vệ các di sản văn hóa và môi trường du lịch.

Theo tác giả Huỳnh Ngọc Thu, trường Đại học Khoa học - Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh: "Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật". Còn nhà văn Nguyễn Xuân Khánh diễn giải vô cùng dễ hiểu và sâu sắc: "Văn hóa còn thì dân tộc còn", đấy chính là cái làm nên sức mạnh cho dân tộc ta vững vàng bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, không thế lực đen tối nào xóa bỏ hoặc đồng hóa được! Vì vậy, dù vô tình, xóa bỏ văn hóa truyền thống của dân tộc là có tội với tương lai đất nước, có tội với nhân dân.

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đặt ra rất nhiều vấn đề lớn, toàn diện và có tính chiến lược liên quan đến văn hóa dân tộc. Vì thế, khi áp dụng vào từng vùng, miền, các cơ quan có trách nhiệm tổ chức, quản lý và khai thác du lịch cần có sự áp dụng khoa học và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc. Tự thân nét đẹp văn hóa ấy tỏa ra một sức hấp dẫn với du khách.

Trần Vân Hạc