Thứ 3, 18/06/2019, 11:57 (GMT+7) Đường dây nóng : (024) 39364407(116) - 091.2011.882

Bài thơ vua trên núi Pú Huổi

08/01/2014 - 15:35

Biên phòng - Sau thời gian chiến đấu trường kỳ gian khổ "Đau lòng nhức óc kể đã mười năm/Nếm mật nằm gai há chẳng hai sớm tối", cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã giành được thắng lợi to lớn, đánh đuổi hoàn toàn giặc Minh ra khỏi bờ cõi, quốc gia trở lại độc lập, thanh bình. Lê Lợi lên ngôi, sáng lập vương triều Lê (1428), đặt niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, mở ra một thời kỳ thịnh trị trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Nhà sử học Lê Quý Đôn dành những lời ca ngợi về tài năng tổ chức, lãnh đạo của Lê Thái Tổ (1385-1433), vị vua đầu tiên của triều Lê: "Vua Thái Tổ ta, có tài dùng binh, khi mới dựng cờ khởi nghĩa, chỉ vẻn vẹn có 200 quân Thiết đột, 200 dũng sĩ và với 300 kỳ binh.

21an-1.jpg
Bài thơ khắc trên vách đá núi Pú Huổi, Lai Châu năm 1432, được nhân dân Lai Châu phục chế kính tặng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010-2010).
Thế mà, phía Tây Ai Lao phải thần phục, phía Bắc dẹp hết giặc Ngô. Vua lại tinh tường việc chính trị, khi mới đến hành doanh Bồ Đề đã tuyển dụng hiền tài, đặt quan chia chức, trừ tàn cấm bạo, thương yêu quân dân, thu hút các bộ lạc, phòng bị nơi biên cương. Thực đã có ngay một quy mô đại định thiên hạ".

Khi vừa lên giữ vương quyền, Lê Thái Tổ tập trung việc ổn định chính trị, kiện toàn bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, chia cả nước thành năm đạo: Đông đạo, Bắc đạo, Tây đạo, Nam đạo và Hải Tây đạo. Đứng đầu mỗi đạo có đặt chức Hành khiển và Tổng quản. Hành khiển có chức nhiệm quản lý việc quân, dân, tài chính và tư pháp, Tổng quản phụ trách chỉ huy các vệ quân địa phương trong đạo. Dưới đạo còn có các đơn vị hành chính cấp thấp theo thứ tự: Trấn, lộ, phủ, huyện và châu. Mỗi đơn vị hành chính các cấp đều có các chức chính quyền tương đương. Riêng vùng dân tộc thiểu số thì đặt thêm chức Tri châu và Đại tri châu, tuyển bổ các Tù trưởng đảm nhiệm.

Lê Thái Tổ ngay từ ngày đầu mới kiến lập vương triều đã lựa chọn và xác định đường lối quản lý đất nước của mình là dùng hình luật trị nước. Nhà vua đã từng tuyên bố trước bách quan văn võ: "Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật. Người không có phép để trị thì loạn. Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân biết thế nào là thiện, ác. Điều thiện thì làm, điều ác thì tránh, không được phạm pháp".

Riêng việc giữ gìn an ninh biên phòng, triều Lê áp dụng chính sách phủ dụ vỗ về, dùng tình cảm và tước lộc phong thưởng, khuyến khích vùng dân tộc thiểu số, nhưng số ít Tù trưởng phía Bắc không chịu thuần phục, vẫn thường gây ra các cuộc nổi loạn, triều đình buộc phải thực thi biện pháp trấn áp, cứng rắn giữ yên biên cương.

Liên tiếp những năm 1430, 1431, 1432, triều Lê phải lệnh các đại thần thân tín và thân chinh nhà vua dẫn quân đi đánh dẹp các cuộc phản loạn. Sau khi dẹp xong loạn tại miền núi xa xôi Tây Bắc năm 1432, Lê Thái Tổ đã ban chiếu nói rõ nguyên nhân phải tự mình dẫn quân: "Trẫm từ khi lên ngôi tới giờ, vẫn muốn tu đức để nước xa tự phục, không hề kỳ thị. Tuy Tù trưởng xứ ấy là Đèo Cát Hãn vẫn quen thói cũ, không lại triều cống, Trẫm đã nhiều lần đem lời tín nghĩa, giảng dụ ân cần, lại hứa sẽ phong cho tước cao, cho hưởng lộc hậu. Nhưng y vẫn lòng lang dạ thú, vẫn giữ chí xưa, vong ân bội nghĩa, trở mặt thành thù…".

Sử chép: Mùa đông, tháng 11-1430, vua (Lê Thái Tổ) đánh bọn nghịch tặc ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu và Nông Đắc Thái. Bấy giờ, Khắc Thiệu và Đắc Thái mưu định làm phản, nhà vua hạ chiếu cầm quân đi đánh, tuyển mộ bộ binh ở hành doanh Bồ Đề. Đầu năm 1431, Lê Thái Tổ thu được thắng lợi trở về, có ghi lại bài thơ trước cửa động châu Thạch Lâm (Thái Nguyên):

Dịch nghĩa:
"Chẳng từ muôn dặm cất quân đi,
Mong cứu dân đen cõi biên thùy,
Trời đất không dung phường gian ác,
Xưa nay tội phản phải tru di".


Nội dung bài thơ đã nói rõ mục đích việc thân chinh dẹp loạn của đương kim hoàng đế nhằm trấn áp nghịch tặc chống lại triều đình, cứu dân vùng biên khỏi cảnh binh đao, loạn lạc. Đồng thời cũng cảnh báo những kẻ nào có ý định phản nghịch nhà vua sẽ chuốc lấy kết cục thảm bại.

Tháng giêng năm 1432, Thổ tù Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ (Lai Châu) làm loạn và liên kết với thổ tù nước Ai Lao là Kha Lại xâm lấn đất Mường Mỗi thuộc quốc gia Đại Việt, nhà vua lệnh cho Tư đồ Lê Sát và Quốc vương Tư Tề (con trưởng của Lê Thái Tổ) tiến đánh trước. Sau đó, Lê Thái Tổ tự mình dẫn một đạo quân chinh phục Đèo Cát Hãn và đồng đảng. Đạo quân của triều đình đánh Mường Lễ, giết được Kha Lại, Đèo Cát Hãn cùng con trai ra hàng. Lê Thái Tổ dẹp yên được cuộc nổi loạn của họ Đèo, đổi tên châu từ Mường Lễ ra Phục Lễ (với ý nghĩa khôi phục lại lễ giáo). Đồng thời, nhà vua cho khắc bài thơ ghi lại chiến công trên tại vùng núi xa xôi Tây Bắc. Vách đá núi Pú Huổi bên bờ sông Đà, nơi khắc bài thơ cách nay hơn 580 năm của vua Lê Thái Tổ, hiện thuộc xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.  

Văn bia khắc trên mặt đá phẳng, kích thước 120x60cm, văn bản không trang trí hoa văn. Chữ Hán trên bia khắc theo hàng dọc từ phải sang trái, gồm 3 phần: Đề từ (tức lời dẫn) gồm 8 dòng, dòng dài nhất 11 chữ, dòng ngắn nhất 4 chữ. Phần chính văn là một bài thơ ngũ ngôn gồm 5 dòng, mỗi dòng 8 chữ, kích thước lớn hơn lời đề từ. Cuối cùng là phần lạc khoản 2 dòng, tổng cộng là 15 dòng, cả thảy gồm 132 chữ Hán.

Nội dung toàn bộ văn bia như sau: Dân Di Địch là mối họa ở vùng biên giới, từ cổ đã có như quân Hung Nô đời Hán, người Đột Quyết đời Đường và tộc người Man ở miền Tây nước Việt ta. Lâu nay, do chính sự cuối đời Trần - Hồ yếu kém, lũ phiên thần hung hăng táo tợn, bọn Cát Hãn cứ quen giữ thói cũ, ngoan cố không sửa đổi. Nay ta đem quân đi đánh, hai đạo thủy bộ cùng tiến, đánh một trận là dẹp yên ngay. Nhân làm một bài thơ luật khắc vào vách đá để răn các Tù trưởng ngang ngạnh đời sau phải biết tuân theo đức hóa.

Thơ rằng:
"Lũ giặc hung dữ tránh sao khỏi trừng phạt,
Người dân biên thùy từ lâu mong được cứu sống.
Việc phiên thần làm phản từ xưa vẫn có,
Vùng đất này từ nay chẳng còn hiểm trở.
Gió thổi, hạc kêu cũng làm cho giặc sợ hãi,
Sông núi đất này đã đưa vào bản đồ nước ta.
Bèn đề thơ khắc vào đá núi,
Trấn giữ miền Tây nước Việt ta.


Ngày tốt tháng cuối đông năm Tân Hợi (1431) Ngọc Hoa Động Chủ đề thơ".

Tấm bia này đã được nhân dân Lai Châu phục chế trên đá và gửi tặng nhân dân Thủ đô Hà Nội nhân dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội (1010-2010) hiện được bày trang trọng trong Đền thờ Lê Thái Tổ ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm lịch sử.

Có thể khẳng định, Lê Thái Tổ là vị vua đã tự mình cầm quân đánh dẹp nhiều cuộc nổi loạn ở biên cương. Đồng thời, ông cũng là vị hoàng đế để lại nhiều bài thơ ma nhai (khắc trên vách đá) tại các vùng biên cương xa xôi phía Bắc. Đó là bài thơ khắc trên cửa động châu Thạch Lâm (Thái Nguyên) năm 1431, bài thơ trên vách đá Thác Bờ vào năm Thuận Thiên thứ 5 (1432) thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và bài thơ tại vách đá núi Pú Huổi được giới thiệu ở trên. Vua Lê Thái Tổ khai sáng vương triều Lê và cũng là vị hoàng đế mở đầu cho công cuộc gìn giữ bảo vệ vùng biên của Đại Việt. Các vị vua tiếp nối, đặc biệt là Lê Thánh Tông (1442-1497) đã thừa hưởng và kế thừa một cách xuất sắc chính sách biên phòng được đặt ra từ triều vua Lê Thái Tổ, khiến cho biên cương Đại Việt trong giai đoạn này được ổn định, bình yên.
Nguyễn Hữu Tâm