Rỗng bụng Ô Loan
Một ngày, đầm Ô Loan không còn sò huyết, cua huỳnh đế, hàu sữa... Chỉ nghĩ đến thôi, thì suy đoán đó cũng khó có thể chấp nhận. Xưa nay, mặt nước thẳm xanh của con đầm hình bóng quạ nằm dưới chân đèo Quán Cau (Phú Yên) được coi là “cái bụng của biển”, nơi hải sản theo cửa An Hải vào trú ngụ, sinh đẻ rồi phân chia trở lại đại dương. Vùng nước chà hai đủ vị đắng cay mặn ngọt của Ô Loan cũng dung dưỡng những sản vật đặc sắc tưởng chừng mãi mãi sinh sôi nảy nở.
 |
| Cây cầu bê tông đang xây dựng vắt qua cửa An Hải. |
Bụng... rỗng
Sò huyết ở đầm Ô Loan nghe ngư dân ở đây kể lại, có thể có con cỡ lớn như nắm tay. Chỉ cần lội xuống lòng đầm, gảy ngón chân cái rồi quặp lấy sò, mỗi ngày mỗi người cũng móc được cả chục ký. Giờ đây, cũng chính những người săn sò lâu đời trên đầm khẳng định, sò trong đầm giờ chỉ còn lác đác, hên mới lấy được chút ít bán cho dân du lịch từ xa đến đầm muốn một lần được ăn thứ đặc sản này mà thôi. Năm vừa qua, có những thời điểm, sò huyết gần như không thấy xuất hiện. Nỗi lo sợ loài nhuyễn thể này tuyệt chủng đã khiến tỉnh Phú Yên phải gấp rút lên kế hoạch bảo vệ, phát triển, thả giống sò xuống lòng đầm mong gây lại nguồn lợi thủy sản đặc biệt này. Thế nhưng, chẳng bao lâu, những con sò chưa đủ lớn lại được móc lên. Người ta không ngừng khai thác ráo riết đến cạn kiệt. Chỉ riêng thôn Phú Sơn, xóm sò của đầm Ô Loan đã có tới 300 hộ dân thường xuyên mò sò trong lòng đầm. Họ đánh bắt theo kiểu tận thu, bất chấp quy định của Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn): Mỗi con sò phải có kích cỡ 25mm trở lên mới được thu hoạch. Huyện Tuy An, nơi quản lý đầm Ô Loan cũng liên tục ra quyết định bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Nhưng tất cả chỉ là những mệnh lệnh trên giấy. Sò đầm đặc sản bây giờ nhiều nhất chỉ cỡ ngón tay cái, có con lọt vỉ nướng, phải bỏ chảo rang, mới hay cái bụng Ô Loan không thể cung cấp kịp trăm vạn bụng người.
Chúng tôi tìm đến các làng nghề đánh bắt thủy sản lâu đời trên đầm Ô Loan. Tháng 4, đầu mùa cá đẻ đồng nghĩa với thời điểm hạn chế đánh bắt, nhưng với ngư dân thì cơm áo là việc ngày nào cũng giống ngày nào. Nhà nào lao động chính bị ốm thì người khác phải thay. Bà Nguyễn Thị Hiến, thôn Tân Long, xã An Cư phân trần: “Con dâu tôi ốm, bữa nay tôi đi đầm thay nó, không quen nên chỉ mò được vài ký vẹm xanh, ít rong câu”. Tôi tìm trong đống thủy sản hai mảnh vỏ mà bà Hiến mang về, chỉ thấy một con sò huyết trơ trọc lọt thỏm giữa đám vẹm nước lợ. Đầm Ô Loan nằm giữa ranh giới 5 xã: An Cư, An Ninh Đông, An Hải, An Hòa, An Hiệp thì dân cả 5 xã, 8 thôn làng này đều sinh sống nhờ sản vật của lòng đầm. Trước đây, các thôn phân chia các nghề khác nhau, xóm sò thì chuyên đánh bắt sò, xóm sứa chỉ chuyên săn sứa. Nhưng bây giờ người người đều lao ra đầm, gặp gì lấy đó, trai, vẹm, điệp... miễn là có thể đắp đổi rau cháo. Ngư dân chuyên nghiệp những năm trước phải tự se tơ, bện sợi để đan lưới bắt cá. Sản lượng đánh bắt được cũng có chừng mực, chỉ bán trong chợ thôn, chợ huyện và phục vụ dân quanh vùng. Khi sản vật đầm Ô Loan càng nức tiếng thì đội quân đánh bắt càng đông đảo. Thêm nữa, lưới, lừ giờ đây rất dễ sắm. Chỉ vài chục ngàn đồng là có được một chiếc lừ (còn gọi là bóng) của Trung Quốc hoặc Thái Lan. Những dây bóng này vét tất tần tật cá, tôm, cua lọt vào những khung sắt bọc lưới màn dày mắt như một chuỗi hộp kín bưng dài 20m, không con nào thoát. Đội quân làm nghề này ngày càng đông, mặc dù đánh bắt bằng bóng đã bị cấm.
 |
| Sò huyết Ô Loan hiếm dần. |
Thiếu sinh khí
Với diện tích tự nhiên 1.570ha, có nơi lòng đầm Ô Loan không sâu quá 1,5m, mặt nước tĩnh và ổn định là nơi lý tưởng để hải sản di cư từ biển vào đẻ trứng. Hệ sinh thái đầm nước lợ là vườn ươm giống hải sản cho biển khơi. Với đầm Ô Loan, môi trường đầm không chỉ thuận lợi cho thủy hải sản sinh nở, còn thuận lợi cả cho việc người ta đánh bắt chúng đến tận diệt. Khu đầm khổng lồ này có tới gần 200 loài cá, trong đó nhiều loài đặc biệt có giá trị kinh tế, nhiều loài khác có tên trong sách đỏ. Chế tài xử phạt đã có, bao gồm cả việc cấm tận diệt thủy sản lẫn việc xả rác xuống lòng đầm, nhưng những đạo luật gắn với việc mưu sinh của dân nghèo thường khó có thể thực hiện, nhất là đối với một vùng nước giàu sản vật rộng lớn như đầm Ô Loan. Một vài ngư dân thủng thẳng nói, chẳng bao giờ thấy bóng kiểm ngư qua lại trong lòng đầm. Nếu khi nào có chiến dịch lập lại trật tự đánh bắt thì họ mới xuất hiện, qua lại vài lượt rồi thôi.
Thời điểm này, ngay tại cửa lạch hiểm yếu này, tỉnh Phú Yên đang tiến hành mở con đường từ Tuy Hòa ra gành Đá Đĩa đi qua đầm Ô Loan phục vụ phát triển du lịch. Một chiếc cầu bê tông dài 173m thay cho một cây cầu gỗ của tư nhân đang dùng hiện nay. Một lần nữa, những cái trụ bê tông lại đóng xuống vị trí này, đe dọa nguy cơ đất cát bồi xuống lòng đầm. Đơn vị thi công làm mặt bằng đã khiến cửa lạch hẹp lại chỉ còn một phần ba trước đây, tức là chỉ rộng chừng 30m. Nếu không nhanh chóng giải phóng cho cửa An Hải, mùa mưa lũ tới đây sẽ lại diễn ra nguy cơ ngọt hóa. Bởi việc phát triển du lịch là cần thiết nhưng cứu môi trường lòng đầm là việc rất cấp bách. Từ cửa lạch này trở vào, 80% diện tích vùng bờ hở của đầm Ô Loan đã bị quây kín để làm đìa nuôi tôm quảng canh. Riêng hóa chất diệt tạp mà mỗi mùa, những người nuôi tôm dùng để làm sạch đìa của họ theo nước thải ra đầm cũng đủ làm chết thủy sản. Những hộ nuôi tôm quảng canh giờ thu nhập rất kém, chỉ năm ba triệu đồng mỗi vụ, nhưng vốn đã đổ hết vào để làm đìa, cũng phải gắng gượng chăm nuôi. Đầm Ô Loan như cái bụng của bà mẹ nhân từ và hào phóng giờ trở thành sức tàn lực kiệt, đôi lúc thiếu sinh khí như bị bóp nghẹt. Lúc tôi rời khỏi đầm Ô Loan qua cây cầu gỗ An Hải, bóng cây cầu mảnh khảnh in xuống mặt nước như một bộ xương cá khổng lồ đã bị vạc đi đến khô khốc. Bao giờ thì đầm Ô Loan không còn tròn đầy với giàu có sản vật? Sự thật có thể không còn xa nữa.
Thụy Văn