Một chiều đầu xuân, tôi đến làng Lỗ Khê - cái “nôi” của nghệ thuật ca trù (còn có tên gọi khác như hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà trò). Cũng tại nơi đây, tôi may mắn được hầu chuyện lão nghệ nhân Hoàng Kỷ, người được dân làng Lỗ Khê tôn vinh là “Đệ nhất trống chầu Thăng Long”.
 |
Thời gian vẫn cứ lặng lẽ trôi, còn đó trăn trở của vị Đại tá già. Ảnh: Bình Minh |
Từ năm 1945, chàng trai Hoàng Kỷ đã tham gia cách mạng bằng những hoạt động thiết thực như gia nhập đội quân du kích và tham gia phong trào thanh niên cứu quốc. Với sự năng nổ trong mọi hoạt động, năm 1949, ông được kết nạp Đảng và năm 1952 theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông nhập ngũ. Trải qua thời gian rèn luyện trong quân ngũ từ bộ đội địa phương đến tiểu đoàn Thiên Đức (sau này là Công an nhân dân vũ trang), với những hoạt động ở biên giới Đông Bắc như tiễu phỉ, củng cố cơ sở biên giới, trong ký ức của ông vẫn còn in đậm những trận đánh khốc liệt với bom na-pan thiêu rụi cả một làng, những trận phục kích chiến đấu ác liệt với kẻ thù trong những đêm sương lạnh. Năm 1978, ông được điều động làm Phó Chính ủy Công an vũ trang tỉnh Quảng Ninh. Là người lính nơi biên thùy lúc nào cũng đối mặt với hiểm nguy, ông trầm ngâm hồi tưởng. Ở huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh, đã có lần ông bị nước lũ cuốn đi gần 5km tưởng chết, may mà bám được vào khóm cúc tần mới giữ được mạng sống. Hay lần đi vận động Châu Đoàn, vốn là cai đội gian ác, khai ra danh sách thổ phỉ ở huyện Ba Chẽ. Từ chỗ chống trả quyết liệt cho đến khi hắn phải tâm phục, khẩu phục quy hàng và sau này trong một trận càn, chính ông lại được hắn (tên thổ phỉ ngày xưa) cứu mạng. “Đời lính vất vả nhưng nhiều kỷ niệm” - Vị cựu Đại tá biên phòng sảng khoái khi được sống lại những kỷ niệm khó quên thời trai trẻ của mình. Năm 1979 cho đến ngày nghỉ hưu, ông đã trải qua các chức vụ Chánh Văn phòng Đảng ủy Công an vũ trang Trung ương, Cục phó Cục Hậu cần - Kỹ thuật BĐBP. Đáng lẽ trước khi về hưu, Hoàng Kỷ đã có thể an hưởng tuổi già, nhưng cái duyên ca trù cứ day dứt khiến ông chẳng thể ngồi yên.
Sinh ra trên mảnh đất tổ của ca trù, có bố là nghệ nhân Hoàng Lư - một tay trống chầu cự phách của giáo phường Kinh Bắc, hai cô ruột là Hoàng Thị Lan và Hoàng Thị Vị, đều là những nghệ nhân hát ca trù nổi tiếng một thời, ông Hoàng Kỷ theo bố và cô đi nghe hát từ bé. Đến năm 12 tuổi, Hoàng Kỷ tham gia phường bát âm: Thổi sáo, kéo nhị, hát đình, đánh trống chầu... Vì thế, từng lời ca, điệu hát ca trù cứ ngấm dần vào máu thịt chàng trai Kinh Bắc lúc nào không hay. Khi lớn lên lại theo tiếng gọi của dân tộc, gác sáo, nhị mà bôn ba trận mạc mãi cho đến khi nghỉ hưu, nghệ nhân Hoàng Kỷ mới có dịp tiếp nối truyền thống cha ông.
Vào thời điểm những năm 90 của thế kỷ trước, khi về hưu, nhận thấy nghệ thuật truyền thống của cha ông mai một, thất truyền, với tính cách quyết liệt đã được tôi luyện trong quân ngũ nhiều năm, cộng với chút vốn chữ Nho sẵn có, ông đã ngày đêm nghiên cứu, khôi phục các vốn cổ, những làn điệu bị mai một. Theo lời của một người già ở Lỗ Khê, lịch sử gần 600 năm làng Lỗ Khê cũng như kiến thức cơ bản về ca trù và đặc biệt là tiếng trống chầu độc nhất vô nhị dường như đã gói trọn trong tâm trí của người cựu binh này. Năm 1995, ông cùng một số nghệ nhân thành lập Câu lạc bộ ca trù của làng để đào tạo thế hệ kế cận. Khi nói chuyện về nghệ thuật ca trù, tôi cảm nhận được sự uyên thâm, đầy say mê của người nghệ nhân bất chấp thể xác đang bị căn bệnh quái ác hành hạ.
Theo ông, ca trù tập trung được tinh hoa của các làn điệu dân ca Kinh Bắc và trong các làn điệu đều ẩn chứa sự bác học, tính nhân văn cao cả. Ông cho biết, ca trù bắt đầu xuất hiện từ thời Lê, đầu tiên là lối hát cửa đình như để giao cảm với thần linh, sau này sinh ra ba lối hát là: Hát cửa đình, hát chơi và hát thi. Người đào kép đi hát cửa đình không bao giờ mặc cả tiền. Khi hát người ta thưởng thẻ tre, trên đó có ghi số tiền thưởng nên gọi hát cửa đình là hát ca trù (trù còn có nghĩa là thẻ tre). Khi hát, có ông Hương lý đánh trống điều hành canh hát, hát hay, thì được nhiều thẻ, căn cứ vào thẻ để làng trả tiền. Cái tinh hoa, cái hay, cái đẹp nằm ở thể hát cửa đình. Nhân nói về chuyện này, ông Hoàng Kỷ không quên nhắc đến câu chuyện vì sao làng Lỗ Khê tẩy chay “hồng hồng tuyết tuyết” của Dương Khuê. Bởi nội dung của bài hát này kể về chuyện một ông già đi chơi “trống bỏi”.
| Nghiên cứu sinh người Pháp Aliénor Anisensel sang Việt Nam làm Luận án
Tiến sĩ về ca trù, đã tìm đến ông Hoàng Kỷ xin theo học. Hơn một tháng
trời được lão nghệ nhân chỉ bảo, đầu tháng 1-2012, A.Anisensel đã bảo vệ
thành công Luận án Tiến sĩ về ca trù tại Thủ đô Pa-ri (Pháp). Luận án
của A.Anisensel được giới khoa học đánh giá rất cao. |
Ông giảng giải: “Nghe ca trù phải có trình độ thẩm định, mới thấu cái hay, cái đẹp, bởi đó là loại hình nghệ thuật uyên bác. Thời Pháp thuộc, ở Lỗ Khê, nhiều gia đình ra Hà Nội mở nhà hát phục vụ giới thượng lưu. Nó không phải là dòng chính thống. Nếu không hiểu rõ, người ta sẽ vô tình đánh đồng với những ca khúc uyên bác của thể loại hát ca trù”.
Rồi ông Hoàng Kỷ say mê giải thích về tầm quan trọng của trống chầu trong hát ca trù: “Trong ca trù, ngoài đào nương ca, kép đờn đáy phụ họa, còn có người đánh trống chầu, không chỉ thuần tuý đánh nhịp mà còn nhằm nhận xét, khen chê. Người đánh trống chầu phải là người thật am hiểu ca trù và thông thạo lề lối đánh trống, hễ đoạn nào ả đào hát hay sẽ ngợi khen bằng cách gõ một bên tang trống gọi là chát, đánh giữa mặt trống gọi là tom.
Nói chính xác, người đánh trống là người giữ nhịp, dẫn dắt điệu hát...”. Vào cái tuổi xế chiều, ông Hoàng Kỷ vẫn đau đáu lo làm sao để nghệ thuật truyền thống của cha ông không bị mai một: “Nếu cứ tình trạng như hiện nay, vài chục năm nữa không hiểu ca trù sẽ về đâu, sẽ sống sao trước sự biến thiên về văn hóa”. Còn nhiều lắm những trăn trở của người cựu binh với ca trù.