Rừng và người và tình yêu nơi đường biên Tổ quốc
Có lẽ ít có chuyến công tác nào trong cuộc đời cầm bút dằng dặc tôi lại chạm mặt với rừng biên giới nhiều đến thế. Có những khoảng rừng vẫn mang mang một mầu xanh ngan ngát, nguyên thuỷ dầm chân bên thượng nguồn những con sông. Có những cánh rừng loang lổ những chỗ bằng phẳng đang nhô lên một vài đọt mầm cây như cằm của gã đàn ông ưa làm đỏm sớm mai vừa lia làn dao cạo cùng những khoảng loang lổ vết cháy, vết tích của lâm tặc và sự canh tác theo lối nguyên thủy “đao canh hỏa nậu”... Có lẽ cũng ít có chuyến đi nào chân tôi lại đụng tới những vùng đất mà chỉ riêng tên gọi đã làm ta sao xuyến bởi nó đã từng vang lên trong nhiều chặng đời mình khi gắn với sự kiện, bước ngoặt của dân tộc, của nước non.
 |
|
Tổ công tác xuống bản. |
Những Plâycu, Pôkô, Sêsan, Sêrêpốc, Trị An ,Yaly, Nhân Cơ, Đắc Nghĩa, Đắc Min, Mang Yvang... và có lẽ cũng ít có chuyến đi nào tôi nhận ra sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ của những người chiến sĩ biên phòng cụ thể và kiên nhẫn đến thế. Họ còn rất trẻ. Đa phần đang ở độ tuổi mới đủ tiêu chuẩn làm giấy chứng minh. Độ tuổi mà ở thành phố không ít người trong lứa tuổi sống trong cảnh sung túc, ngày ngày ném mình vào nhịp sống thờ ơ trong sự hưởng thụ, hoặc gấp gáp trong thú ăn chơi... Còn với họ, những người lính biên phòng trai trẻ trên mép lờ mờ hiện ra hàng ria lông tơ lại đưa đôi vai mình ra gánh trọng trách lớn lao và thiêng liêng - bảo vệ biên cương, bờ cõi cho Tổ quốc, bảo vệ một khoảng trời đất mênh mông của non sông cho mỗi con người Việt Nam sống thanh bình làm ăn, hạnh phúc...
Đồn BP Bu Cháp BĐBP Đắc Nông quản lý 14 cây số biên giới đã được phong là đơn vị anh hùng vì lập nên chiến công trong chiến tranh biên giới. Trong giai đoạn này chỉ từ ngày 20-5 năm 1975 đến đầu 1978 cán bộ, chiến sĩ của đồn đã căng mình ra trong hơn 127 trận chiến lớn nhỏ. Có những trận đánh vào năm 1976 diễn ra liên tục 47 ngày đêm để đẩy lùi quân giặc từ bên kia biên giới tràn sang. Trước khi vào đồn, chúng tôi nghiêng mình kính cẩn tưởng niệm trước tấm bia trên đài liệt sĩ ghi rõ tên tuổi gần một trăm chiến sĩ biên phòng đã hi sinh vì sự tồn vinh của đất nước. Đồn BP Bu Cháp nằm kề bên biên giới thuộc địa phận buôn Bu Cháp huyện Tuy Đức. Dân sống chủ yếu là bà con dân tộc Mơ nông. Khi chiến tranh biên giới xẩy ra, khu vực này trở thành địa điểm nóng, dân lùi sâu vào phía trong nội địa cách khu vực đồn trên dưới chục cây số. Còn hôm nay chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống thanh bình ngày ngày diễn ra trên mỗi tấc đất của Tổ quốc. Người ta tổ chức những cuộc thi hoa hậu, thời trang mà chỉ riêng để được thực hiện nghi thức gắn vương miện lên đầu hoa hậu đã có giá hơn 1 tỉ.
Vậy mà tại đồn biên phòng anh hùng này, những đường hào, hầm trú vẫn được duy trì, luôn luôn tu sửa. Anh chiến sĩ biên phòng vẫn ngày ngày cơm nắm, mì khô đeo trong ba lô đi tuần trên những địa hình mà chỉ nghe tên đã thấy vất vả. Dốc Đỏ là nơi người đến thăm nơi đây và người tiễn thường làm mốc để chia tay là tên con dốc leo từ chân dốc lên đến đỉnh mắt đỏ hoe vì mệt và áo thì rực màu máu chảy loang vì vắt rừng cắn. Vài ba năm nay đường biên giới vừa xây xong, việc tuần tra của anh em ít nhiều đỡ khổ hơn. Chuyến tuần tra trong ngày đỡ vất còn những chuyến tuần tra một tuần, hay 10 ngày thì quả là... lương thực, vũ khí, thuốc men, tăng võng... trên vai. Mùa mưa vùng này thì dằng dặc sáu, bảy tháng trời. Rừng núi mịt mù, cây lá sũng nước. Anh lính trẻ lại phải học cách mắc màn, võng làm sao cho nước mưa khỏi tràn vào võng. Đêm ngủ trong rừng thay phiên nhau mà canh để lũ rừng đột ngột khỏi cuốn, canh làm sao cho con nưa (loại trăn rừng độc cắn chết người ở khu vực này) khỏi xâm phạm... Đi tuần mùa mưa khổ vì lũ rừng, trăn độc, đi tuần mùa khô lại khổ vì ve cám. Không cẩn thận ve chui vào tai, vào da nằm lỳ hàng mấy năm làm tổ, làm kén gây ngứa, mụn mọc khắp người. Đời sống người dân ở đây còn cực khổ vì chỉ trông vào rau cỏ, sản vật rừng. Anh lính biên phòng cũng không hơn gì...
Đêm ấy, chúng tôi ngủ lại đồn. Anh em chiến sĩ binh nhất, binh nhì thương các cô, các bác nhà văn, tác giả sân khấu tuổi cao nhường giường, nhường phòng. Điện mất. Bóng tối biên giới ập xuống xòe tay không nhìn thấy ngón. Cả đêm gió mang hơi lạnh buốt từ núi xuống lồng lộn, quầy quả. Mấy con chó đồn nuôi vừa để trông nhà và làm nguồn thực phẩm dự trữ sống khi cấp bách, tru từng hồi đối lại tiếng cuồng phong. Nhiều tuổi, giường lạ nằm không ngủ được. Lại nhớ đến cảnh người lính biên phòng trẻ măng chắc lâu ngày không về nhà, vừa gặp đoàn nhà văn, anh đã ôm chầm nữ tác giả vùng Cà Mau, Hà Nam Quang nũng nịu với bà “Cô vuốt tóc con đi cho con đỡ nhớ mẹ”. Anh lính binh nhất đã vậy, đến Đội trưởng Đội vũ trang Trần Mạnh Hùng, người được mệnh danh quả đấm thép của đồn BP Bu Cháp pha ấm trà sáng tiếp tôi còn thủ thỉ “Vợ con vừa sinh cháu, con nhớ nó quá mà chưa về được”. “Nhà cách bao xa?”. “Nhà con cách đây hơn trăm cây số. Nhưng không thể rời bỏ vị trí được”. Anh đội trưởng chòm chèm ba chục tuổi cười hiền lành. Thế cho nên ở đây, mỗi khi có dịp tập trung là anh em lại lao xao truyền tin về sự kiện gia đình vừa nhận được”. “Con tôi vừa biết lẫy”. “Vợ tôi còn hai tuần nữa là đẻ”... Thiếu tá Phạm Huy Thành, Đồn trưởng thoạt trông thì nghiêm khắc nhưng ngồi một lúc mới thấy lộ chất hài hước của gã đàn ông vui tính, hoạt ngôn. Thiếu tá Thành bông đùa khoe: “Mỗi lần về là em bảo với vợ em. Anh ăn gì cũng chỉ vì em”. Còn lệnh mồm của Đồn trưởng ban ra đối với lính biên phòng có vợ về phép là “Yêu vợ thật hăng nhưng phải thật khoẻ sau khi trả phép”. Anh lính có vợ đã thế còn cánh thanh niên hơ hớ chưa vướng bận gì trong đồn BP? Dân ở thì xa, ngày ngày, đêm đêm chỉ chăm chắm lo bình yên nơi biên cương hẻo lánh.
 |
|
Cán bộ, chiến sĩ đồn BP và Nhà văn Chu Lai |
Nỗi khát, sự thiếu trong tim bầy ra bằng mồm, còn sự thiếu thốn khó khăn vật chất thì hiển hiện trên chạn bát. Tôi đến đồn BP 717 thuộc BĐBP Gia Lai ở xã IaO huyện Ia Grai như thấy lại những gì của một thủa chiến tranh cách đây gần bốn mươi năm. Đồn 717 được xây từ năm 1988, quản lý 5,5km đường biên giới trong đó có ba cột mốc 251; 252 và 253... Tiếng là quản lý một xã nhưng diện tích IaO này xấp xỉ bằng tỉnh Thái Bình. Đến bữa ăn, mấy chiến sĩ trẻ loay hoay mãi chỉ lo thiếu bát đũa tiếp khách. Nhìn mặt, từ Đại úy Nguyễn Thế Bất, Đồn trưởng; Trung tá Đoàn Văn Khải, Chính trị viên đến anh chiến sĩ trẻ măng đều thấy sự hồ hởi mến khách nhưng nhìn vào bữa cơm bày trên đôi bàn ghép tiếp khách thấy anh em còn thiếu thốn lắm, cái bát, cái thìa, cái xoong, cái nồi...
Còn nước sinh hoạt nữa chứ. Mùa mưa còn đỡ, mùa khô đành học cách dùng nước giọt - một cách gọi theo bà con dân tộc - nước tích trong vỏ quả bầu khô để dành từ mùa mưa - cho qua ngày. Nữ tác giả Thiều Hạnh Nguyên ngồi trên xe còn rưng rưng: “Em đảo qua bếp của đồn anh hùng 721. Nhìn đồ đạc nhà bếp thấy tội quá. Thiếu đủ thứ cơ bản nhất để làm một bữa ăn. Mà lại toàn con trai”. Ngồi một lúc thấy một tốp chiến sĩ trẻ măng, vai lủng lẳng súng, bao tượng ồn ào, hớn hở tập trung. Hỏi, Đồn trưởng Bất bảo: Anh em đang chuẩn bị đi tăng gia sản xuất. Địa điểm tăng gia cách đồn hơn 10 cây số nên anh em phải chuẩn bị đủ thứ đảm bảo cho mỗi đợt sản xuất. Chỉ tiêu giao hết rồi. Vui chuyện, Chính trị viên Khải kể. “Mấy năm nay nhờ có công trường xây dựng thuỷ điện Sê San nên còn có đường, có điện, công nhân ra vào đồn, đồng bào còn tiếp xúc ít nhiều văn minh, chứ vài năm trước đây. Đường sá heo hút, mưa vài ba ngày thì đồn BP, cả khu vực thành ốc đảo. Lúc đó mọi sự tồn tại của đồn, kể từ cái ăn, cái mặc là nhỏ nhất cùng phải nhìn vào bàn tay mình thôi”.
Nguyễn Hiếu