Huyện Ba Tơ nằm lọt thỏm giữa khu vực núi rừng hiểm trở của tỉnh Quảng Ngãi nên thực dân Pháp đã đưa các chiến sĩ cách mạng mãn hạn tù ở Buôn Ma Thuột tập trung về quản thúc tại đây và gọi là căng an trí. Nhưng chúng không ngờ, một người chiến sĩ có vóc dáng cao lớn, ánh mắt sáng quắc đã nung nấu ý chí chờ cơ hội sẽ đánh úp chính quyền của Ba Tơ - đó là Phạm Kiệt, người sau này trở thành Tư lệnh kiêm Chính ủy Công an nhân dân vũ trang.
|
Chân dung Trung tướng Phạm Kiệt. |
Từ nhà tù Buôn Ma Thuột về Ba Tơ, đồng chí Phạm Kiệt đã bí mật mang theo “bản tóm tắt Nghị quyết Trung ương lần thứ 8”, nội dung đề cập vấn đề giải phóng dân tộc, thành lập Mặt trận Việt Minh; tranh thủ mọi lực lượng có thể để cứu nước, giải phóng dân tộc; giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương.
Vậy là Ủy ban vận động cách mạng Quảng Ngãi được thành lập giữa lòng địch và trở thành cơ quan Tổng chỉ huy chỉ đạo cuộc kháng chiến cho cả tỉnh. Những đội viên đầu tiên có mặt trong đội du kích Ba Tơ sau này đều trở thành những tướng lĩnh trong Quân đội nhân dân Việt Nam, như: Trung tướng Nguyễn Đôn (nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam), Trung tướng Trần Quý Hai (nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Trung tướng Nguyễn Chánh (nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam)...
Trưa ngày 10-3-1945, một cơ sở từ thị xã Quảng Ngãi lên Ba Tơ báo tin khẩn: “Nhật đảo chính Pháp”. Đội du kích Ba Tơ quyết định chớp nhoáng - sáng 11-3 sẽ xông vào cướp đồn địch. Đồng chí Phạm Kiệt làm trưởng ban khởi nghĩa Ba Tơ.
Tại Ba Tơ, lo sợ quân Nhật kéo chiếm đồn, bọn lính đã đóng chặt cửa, canh phòng cẩn mật. Phương án công đồn phải thay đổi. Đội du kích chia làm 2 cánh quân, một đội do đồng chí Phạm Kiệt làm đội trưởng, Nguyễn Đôn là Chính trị viên chuẩn bị bao vây, tấn công đồn. Một đội tỏa về các bản vận động quần chúng tập trung bao vây cơ quan hành chính và đồn địch, tạo áp lực để giành chính quyền.
15h chiều ngày 11-3-1945, hàng vạn quần chúng cầm giáo mác, gậy gộc kéo về thị trấn Ba Tơ tổ chức mít tinh. Tiếng cồng chiêng vang khắp núi rừng. Bọn địch trong Nha kiểm lý run sợ trước khí thế cách mạng. Những chiến sĩ bị chúng quản thúc giờ đây đã trở thành lãnh đạo cuộc nổi dậy giành chính quyền.
Giữa lúc quần chúng sục sôi khí thế cách mạng, đồng chí Phạm Kiệt kêu gọi nhân dân đoàn kết một lòng, đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân. “Đánh đổ phát xít Nhật! Tẩy sạch thực dân Pháp ở Đông Dương, ủng hộ Mặt trận Việt Minh” - những tiếng hô vang dậy núi rừng góp phần thổi bùng lên ngọn lửa quần chúng.
Khi quần chúng đã giác ngộ được nhiệm vụ cách mạng, đội du kích làm nòng cốt dẫn dòng người về bao vây Nha kiểm lý của huyện. Trong màn đêm Ba Tơ, hàng ngàn ngọn đuốc thắp sáng rực di chuyển khắp núi rừng. Tiếng cồng chiêng ầm ầm vang vọng. “Quan nha” Bùi Danh Ngũ và toàn bộ bộ sậu trong nha khúm núm xin hàng và nộp 5 khẩu súng cho ông Kiệt.
Đoàn người tiếp tục quay sang bao vây đồn Ba Tơ. Đồn này được xây dựng trên một ngọn đồi cao. Quanh đồn đều có hào rộng được cắm chông và hàng rào. Hệ thống lô cốt bố trí bốn phía. Tiếng súng lệnh trên tay đội trưởng du kích Ba Tơ nổ vang, sau đó là lời kêu gọi quân địch ra hàng. Bọn lính trong đồn ngoan cố bắn trả hàng loạt đạn. Bộ phận binh vận bắc loa tiếp tục kêu gọi chúng ra hàng Việt Minh: “Anh em an trí lấy đồn đánh Tây. Hàng đi! Ai hạ súng đầu hàng thì sống, ai chống cự thì chết”.
Nhận được tín hiệu đầu hàng của địch, Phạm Kiệt cùng dòng người ào ạt lao vào đồn như dòng thác. 28 tên lính khố xanh ra hàng trước sân đồn và giao nộp 17 súng, 50 hòm đạn. Tên thiếu tá Pháp - đồn trưởng bỏ chạy về hướng Công Plông. Số hàng binh được giáo dục và cho về với gia đình.
Để bảo vệ Ba Tơ - căn cứ chỉ đạo cuộc kháng chiến của cả tỉnh, quần chúng nhân dân các địa phương Hùng Nghĩa, Thạch Trụ, Trường Lệ đào hào, chặt cây, đặt chướng ngại vật để ngăn quân Nhật kéo lên. Cũng trong đêm ấy, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại sân vận động Ba Tơ. Chính quyền cách mạng ra mắt.
Đội du kích Ba Tơ gồm 28 chiến sĩ đã ra mắt quần chúng. Đồng chí Phạm Kiệt làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm Chính trị viên. Vậy là Ba Tơ, một căng an trí để giam cầm các chiến sĩ cách mạng, một đồn sơn phòng để thực dân Pháp đàn áp nhân dân, nay đã trở thành căn cứ vững chắc của cách mạng.  |
Khẩu súng Browning của Trung tướng Phạm Kiệt sử dụng trong khởi nghĩa Ba Tơ. Ảnh: Văn Chương |
Những ngày mới ra đời, đội du kích Ba Tơ do đồng chí Phạm Kiệt làm đội trưởng đã ban hành quy định: “Trong quân ngũ có điều gì bất bình, có quyền đưa ra toàn thể xét xử, cấm nói xấu vắng mặt. Không được lấy không của ai, dù là cây kim hay sợi chỉ. Xử tội nặng người nào cướp phá tiền của, sản vật của dân chúng, dùng võ lực để bắt buộc dân chúng làm việc cho mình...”.
Kỷ luật chặt chẽ, tinh thần dũng cảm, đội du kích Ba Tơ do đồng chí Phạm Kiệt làm đội trưởng ngay từ những ngày đầu đã thể hiện là đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc và luôn được nhân dân che chở.
Những ngày đầu, đội du kích phải đối mặt với bao khó khăn chồng chất, ăn uống đói khát. Tuy nhiên, anh em không bao giờ tơ hào đến quả bắp, quả chuối của nhân dân. Chính vì vậy, quân Nhật đổ quân lên truy lùng nhưng vẫn không tìm thấy dấu vết của đội du kích. Người dân một lòng che chở cho các chiến sĩ. Cụ Chánh Rum bị quân Nhật kề dao cắt cổ chảy máu ròng ròng, hỏi đội du kích ở đâu? Ông trừng mắt nói: “Tao già, chết cũng được”.
Để mở rộng lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh, đồng chí Phạm Kiệt đã phân công anh em về các địa phương tổ chức huấn luyện và thành lập hàng loạt các đơn vị du kích, hội viên tự vệ với quân số hàng chục ngàn người. Chỉ 5 tháng sau (Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945), với 2.000 quân chính quy, trang bị 400 khẩu súng, Đội trưởng Phạm Kiệt cùng đồng đội tiến xuống đồng bằng giải phóng Quảng Ngãi.
Tại bảo tàng của huyện Ba Tơ, hiện còn lưu giữ khẩu súng ngắn Browning mà đồng chí Phạm Kiệt - đội trưởng du kích Ba Tơ sử dụng. 66 năm trôi qua, nhưng khẩu súng vẫn ngời ánh thép, như cuộc đời Trung tướng Phạm Kiệt luôn gắn với tinh thần tiến công không mệt mỏi. Thời gian trôi qua, tên tuổi của ông luôn ngời sáng và trở thành niềm tự hào đối với người chiến sĩ biên phòng hôm nay.